Khổ sở vạch lớp mỡ dày mổ đẻ cho 9X “tạ rưỡi”, đứa trẻ ra đời bác sĩ thở dài
Với cân nặng lúc lên bàn đẻ là 159kg, thai phụ đã khiến các bác sĩ phải than thở: “Khổ quá! Thực sự là làm khó chúng tôi mà”.
Mới đây, khoa sản của Bệnh viện Đại học Trấn Giang, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc đã tiếp nhận một thai phụ cân nặng khủng đang chuyển dạ. Theo đó, thai phụ này nặng tới 159kg và phải nhờ tới 7-8 người khiêng lên bàn sinh.
Chia sẻ với phóng viên, bệnh viện nói rằng trọng lượng siêu khủng của bà mẹ này đã kéo theo hàng loạt rắc rối khi mang thai như béo phì, tiểu đường, sinh con khổng lồ,…. “ Khổ quá! Thực sự là làm khó chúng tôi mà“, các y bác sĩ tham gia vào quá trình sinh nở của sản phụ than thở.
Thai phụ nặng tới 159kg, phải nhờ tới 7-8 người khiêng lên bàn sinh.
Theo thông tin từ bệnh viện, chị Trần Nhiễm (26 tuổi, tên nhân vật đã thay đổi) trước khi mang thai đã bị béo phì với cân nặng hơn 125kg. Sau khi mang thai, chị Trần càng ăn uống thả phanh nên bụng to lên nhanh chóng, thân hình cũng ngày càng “phì nhiêu” hơn.
Cuối tháng thứ 7 của thai kỳ, chị Trần lại phát hiện bị tiểu đường thai kỳ. Dưới sự chăm sóc và quản lý chặt chẽ của bác sĩ Trương Quần, trưởng khoa sản Bệnh viện Đại học Trấn Giang, chị Trần mới có thể qua tam cá nguyệt thứ 3 một cách ổn định.
Thai phụ có trọng lượng “khổng lồ” đã tạo ra câu hỏi hóc búa cho đội ngũ y bác sĩ.
“ Khi nào kết thúc thai kỳ chúng tôi mới bớt lo“, bác sĩ Trương nói. Bởi lẽ béo phì và tiểu đường thai kỳ đều làm gia tăng tình trạng sảy thai, sinh non, thai chết lưu, thai nhi quá to, chấn thương trong khi sinh và các bất thường bẩm sinh khác ở thai nhi (đặc biệt là dị tật ống thần kinh), chứng tự kỷ, tăng khả năng mắc bệnh béo phì và các bệnh chuyển hóa khi trưởng thành.
Sau khi thảo luận và đánh giá tình trạng sức khỏe của chị Trần, các bác sĩ quyết định mổ lấy thai cho chị khi thai được 37 tuần. Lúc này, cân nặng của chị Trần đã lên tới 159kg.
Video đang HOT
Bàn sinh của chị Trần cũng phải nới rộng ra thì chị mới có thể nằm vừa.
Do chiều rộng của bàn mổ không đủ cho chị Trần nằm lên nên các nhân viên y tế phải nới rộng giường bằng tay. Cụ thể, các nhân viên y tế lấy 2 tấm chắn phẫu thuật và cố định chúng ở 2 bên giường. Sau nhiều lần thử nghiệm độ cứng và ổn định của giường, vấn đề đã được giải quyết.
Vấn đề thứ 2 các bác sĩ gặp phải chính là mỡ tích tụ quá nhiều khiến bác sĩ gây mê hồi sức rất khó để xác định được đúng vị trí gây tê tủy sống để tiến hành phẫu thuật. Với các thai phụ bình thường, để gây tê tủy sống, mũi kim tiêm ở vị trí thắt lưng chỉ cần đâm sâu khoảng 4-6cm, nhưng độ sâu mà máy siêu âm đo được cho chị Trần là 8,5cm nên tiêm theo cách thông thường thì nguy cơ thất bại rất cao. Cuối cùng, bác sĩ đành phải đưa mũi kim tiêm dẫn qua ống siêu âm đầu dò để thực hiện thành công việc gây tê cho thai phụ.
Việc gây tê tủy sống để mổ bắt thai là một vấn đề khá nan giải với bác sĩ.
Vấn đề nan giải thứ 3 chính là nên mổ dọc hay mổ ngang bởi lớp mỡ bụng của sản phụ cũng rất dày. Sau khi trao đổi với nhau, các bác sĩ quyết định mổ lấy thai cho chị Trần bằng phương pháp mổ dọc để việc tiếp xúc với thai nhi thuận lợi hơn cũng như vết thương nhanh lành hơn.
Tuy nhiên, điều nguy hiểm nhất đối với bác sĩ Trương trong ca phẫu thuật mổ lấy thai này chính là bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu. Đây là bệnh lý hình thành khi tĩnh mạch có cục máu đông làm cản trở dòng máu lưu thông trở về tim. Nếu không được điều trị kịp thời, máu tụ di chuyển đến phổi có thể gây tắc mạch phổi, gây nguy hiểm đến tính mạng.
Các bác sĩ đang siêu âm, dò vị trí để tiêm gây tê tủy sống cho chị Trần.
Béo phì và tiểu đường đều là những yếu tố nguy cơ cao gây ra bệnh huyết khối tĩnh mạch. Phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị sớm là những biện pháp chính để giảm thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Dựa vào những điều này, bác sĩ Trương đã sớm có biện pháp can thiệp với chị Trần. Thông qua việc sử dụng que khí nén, thuốc chống huyết khối,… tỷ lệ huyết khối trong cơ thể chị Trần đã giảm đi rất nhiều.
Với sự cố gắng của các nhân viên y tế, cuối cùng chị Trần đã hạ sinh một bé trai nặng 5,25kg. Nhưng nhìn đứa trẻ, bác sĩ vẫn không thể vui mừng mà tiếp tục thở dài. Do trọng lượng lớn, bé có triệu chứng hạ đường huyết bẩm sinh và cần lập tức được chuyển tới khoa sơ sinh để điều trị.
Con trai của chị Trần chào đời với cân nặng 5,25kg.
Các bác sĩ cho biết, hạ đường huyết có thể khiến trẻ bơ phờ, suy nhược, vã mồ hôi, khó thở, thậm chí co giật. Nếu tình trạng này trở nặng và kéo dài sẽ gây ra các di chứng thần kinh như chậm phát triển trí tuệ. Một số trẻ sơ sinh quá to cũng dễ bị biến chứng như hạ canxi trong máu, vàng da hoặc dị dạng. Tuy nhiên, do được cứu chữa kịp thời nên con của chị Trần đã nhanh chóng bình phục và được xuất viện.
Thông qua trường hợp của chị Trần, bác sĩ cũng muốn nhắc nhở các sản phụ khác rằng nên quản lý cân nặng của mình trong quá trình mang thai và sinh nở. Thực hiện chế độ ăn uống, tập luyện lành mạnh để tăng cân trong mức lý tưởng.
Bác sĩ căng thẳng giúp thai phụ nặng 152 kg sinh con ở Quảng Ninh
Khi lên bàn mổ, sản phụ 31 tuổi nặng tới 152kg, nguy cơ tử vong cao trong quá trình bắt con.
BS Vũ Thị Dung, Phó trưởng khoa Điều trị theo yêu cầu, Bệnh viện Việt Nam Thuỵ Điển Uông Bí, Quảng Ninh cho biết, tỉ lệ phụ nữ thừa cân, béo phì mang thai ngày càng nhiều. Chỉ trong 9 tháng đầu năm, khoa tiếp nhận tới 28 trường hợp đến sinh con.
Nặng cân nhất là thai phụ 31 tuổi, 152 kg, chỉ số BMI lên tới 56.6. Khi mang bầu, thai phụ này được chẩn đoán tiền sản giật, nguy cơ tử vong cao trong quá trình phẫu thuật bắt con.
Ở tuần thai 40, thai phụ có chỉ định sinh mổ, tuy nhiên do cân nặng quá lớn nên bác sĩ phải cân nhắc rất kĩ liều lượng thuốc gây tê.
"Thai phụ cũng có nguy cơ cao tắc mạch khi phẫu thuật, em bé có nguy cơ bị ngạt, bị sang chấn hoặc bị suy hô hấp sau khi chào đời", BS Dung chia sẻ. May mắn, ca mổ bắt con thuận lợi, bé con chào đời nặng 3,1 kg.
Bác sĩ thăm khám, kiểm tra sức khoẻ cho sản phụ P.A. sau khi sinh con
Mới đây, BS Dung cũng trực tiếp mổ đẻ cho sản phụ N.T.P.A., 29 tuổi ở thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh nặng 98 kg, BMI 36,9. Bệnh nhân được chuyển vào bệnh viện cấp cứu khi thai mới 35 tuần nhưng bị ra máu âm đạo nhiều.
Qua thăm khám và làm xét nghiệm, bác sĩ chẩn đoán sản phụ chuyển dạ đẻ nhưng rau tiền đạo ra máu, ngôi ngang, mắc tiểu đường thai kỳ (đường máu cao nhất 14mmol/l, gấp đôi người bình thường).
Ngay lập tức bác sĩ chỉ định mổ cấp cứu bắt con, thi nhi nặng 2,4 kg. Sau mổ, sản phụ được chỉ định điều trị nội tiết, hiện sức khoẻ cả mẹ và con đều đã ổn định.
BS Dung cho biết, béo phì ở phụ nữ không chỉ gây khó khăn cho quá trình thụ thai mà còn đối mặt nhiều nguy cơ khi mang thai và sinh con như sảy thai, dị tật bẩm sinh cho con, tiền sản giật, tiểu đường thai kỳ, tăng huyết áp, thậm chí người mẹ có thể bị ngừng thở khi ngủ.
Trong quá trình sinh con, sản phụ béo phì sẽ phải trải qua quá trình sinh nở phức tạp, khó sinh thường do sự giãn nở của tử cung không đáp ứng kích thước của thai nhi hoặc do lượng mỡ quá lớn gây khó khăn cho việc xác định vị trí đốt sống để gây tê.
Nếu thai phụ mổ đẻ, nguy cơ bị nhiễm trùng vết mổ, nguy cơ tắc mạch cũng cao gấp đôi so với sản phụ có cân nặng bình thường.
Không chỉ gây hại cho mẹ, béo phì ở mẹ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ thai nhi. Đứa trẻ sinh ra dễ mắc dị tật bẩm sinh ở tim hay dị tật ống thần kinh do mẹ thường mắc các bệnh lý chuyển hoá trong thai kỳ, nguy cơ bị đẻ non, thai chết lưu lớn.
Ngoài ra, trẻ cũng có thể bị kẹt vai, chấn thương khi sinh mổ do thai nhi quá lớn đồng thời có nguy cơ cao bị béo phì khi trưởng thành.
Do đó, để đảm bảo an toàn cho sản phụ và thai nhi, các bác sĩ khuyến cáo đối với phụ nữ béo phì cần giảm cân trước khi mang thai, đảm bảo BMI dưới 27.
Nếu ăn kiêng, tập luyện khó giảm cân, có thể áp dụng phẫu thuật giảm béo trước khi có ý định mang thai từ 1-2 năm.
Trong quá trình mang thai, duy trì tập thể dục từ 5 phút mỗi ngày và tăng dần đến 30 phút mỗi ngày kết hợp ăn uống khoa học, hợp lý.
Thai phụ béo phì cũng được yêu cầu thường xuyên kiểm tra chỉ số đường huyết, chức năng gan, thận, huyết áp và xét nghiệm sàng lọc thai nhi trong 3 tháng đầu.
Trong 3 tháng giữa từ tuần 26 - 28 cần xét nghiệm đường huyết và làm nghiệm pháp dung nạp đường huyết, nhằm giảm thiểu nguy cơ tiền sản giật và đái đường thai kỳ.
Trong 3 tháng cuối, sản phụ có nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, đẻ khó do vai, đẻ non... nên cần theo dõi sát. Trong giai đoạn này, mỗi ngày chỉ bổ sung trung bình thêm 300 kcal.
Nịt bụng sau sinh có giúp mẹ giảm eo hiệu quả? Trước khi dùng hãy cân nhắc đến 5 nhược điểm dưới đây Hầu hết các mẹ sữa đều cảm thấy tự ti vì vòng 2 chảy xệ, bèo nhèo sau khi mang thai. Nhiều người trong số họ đã lựa chọn nịt bụng sau sinh để giảm eo, giảm mỡ bụng. Nịt bụng là một loại đai đặc biệt nhằm giúp người mẹ giảm eo, giữ phom bụng sau sinh. Ngoài ra, nịt bụng tạo...