Trường ĐH Bách Khoa TPHCM: 55 năm năng động, sáng tạo
Đi từ giảng dạy và nghiên cứu lý thuyết trong phòng thí nghiệm đến nghiên cứu ứng dụng rồi triển khai đại trà là cả một quá trình cam go nhưng tập thể giảng viên Trường ĐH Bách khoa – ĐH Quốc gia TPHCM đã chủ động chọn lựa
Cuộc hành trình hơn nửa thế kỷ ấy đã làm nên một tên tuổi uy tín cao trong hệ thống ĐH Việt Nam. PGS-TS Vũ Đình Thành, hiệu trưởng nhà trường, đã bày tỏ sự xúc động, tự hào khi nói về ngôi trường 55 năm tuổi.
* Phóng viên: Trên cương vị hiệu trưởng, ông có thể chia sẻ cảm xúc của mình nhân kỷ niệm 55 năm thành lập trường?
- PGS-TS Vũ Đình Thành: 55 năm quả là một quãng đường dài với sự phát triển của nhà trường, qua những giai đoạn thăng trầm không thể quên. Bắt đầu từ giai đoạn 1957 – 1975 hình thành và xác định lĩnh vực khoa học công nghệ, đến giai đoạn 1975 – 1990 nhiều gian khó và từ 1990 đến nay là quá trình phát triển mạnh. Dù ở giai đoạn nào, ngày kỷ niệm 27-10 luôn là ngày trọng đại của chúng tôi, những cán bộ, giảng viên, sinh viên (SV) nhà trường.
* Trong giai đoạn phát triển mạnh, theo ông, điều gì của Trường Đại học Bách khoa khiến học sinh tốp đầu của các trường THPT phải cạnh tranh nhau để giành từng suất học ở trường?
- Có lẽ xuất phát từ mục tiêu đào tạo. Với tiềm lực của mình, Bách khoa luôn xác định theo định hướng nghiên cứu, phát triển nằm trong tốp đầu các ĐH trong nước và khu vực. Chúng tôi không đặt vấn đề tuyển SV số lượng lớn để thu hút học phí, mà chỉ chọn lọc đầu vào có chất lượng để theo đuổi chương trình đào tạo 5 năm khắt khe.
Chương trình không chỉ đào tạo ra những cán bộ kỹ thuật mà còn là những lãnh đạo tương lai với sự bổ sung vào các môn học về quản lý, nghiệp vụ và giao tiếp. Mục tiêu của trường là phát huy tiềm năng, sức sáng tạo còn tiềm tàng trong mỗi SV cung cấp các kiến thức không những trong phạm vi lớp học mà còn tạo điều kiện để SV tham gia các dự án, đề tài khoa học của trường, các hoạt động xã hội…
Sinh viên Trường Đại học Bách khoa trong giờ thực hành. Ảnh: TƯỜNG BÁCH
* Ông và đồng nghiệp có những chiến lược gì trong giai đoạn các ĐH cạnh tranh gay gắt như hiện nay?
Video đang HOT
- Chúng tôi xác định trong 5 năm tới sẽ thực hiện một số nhiệm vụ. Đó là cải tổ mô hình đào tạo, đặt mục tiêu đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, hội nhập quốc tế. Tham gia đề án mô hình CDIO của Bộ GD-ĐT và ĐH Quốc gia TPHCM, tham gia dự án HEEAP của Bộ GD-ĐT hợp tác với Intel Việt Nam và Arizona State University nhằm hỗ trợ cho ĐH Việt Nam trong việc huấn luyện giảng viên thay đổi phương pháp đào tạo, phương pháp đánh giá, xây dựng chuẩn đầu vào, đầu ra môn học…
Đẩy mạnh kiểm định chất lượng, hội nhập quốc tế trong một số chuẩn kiểm định về chương trình đào tạo. Hiện trường đã có nhiều chương trình được công nhận chất lượng của AUN ( Asean University Network), châu Âu (chuẩn CTI Pháp và chuẩn EUR-ACE châu Âu), tiến tới kiểm định chuẩn ABET của Mỹ. Đẩy mạnh nghiên cứu và đào tạo sau ĐH theo phương thức nghiên cứu. Mở rộng quan hệ quốc tế ra nhiều trường ĐH khác và trong nhiều lĩnh vực khác, sử dụng quan hệ quốc tế để phát triển nhà trường. Và cuối cùng là cải tổ cơ chế quản lý để tăng hiệu quả công việc.
* Để thực hiện những nhiệm vụ trên, còn điều gì khiến ông trăn trở?
- Tôi có hai trăn trở. Thứ nhất là cơ chế tự chủ của trường ĐH đã được xác định trong luật nhưng khi triển khai còn nhiều vướng mắc, nhiều quy định chồng chéo đầu tư ngân sách cho ĐH còn rất hạn chế, rất khó phát triển với tầm nhìn xa. Thứ hai là các điều kiện làm việc cho cán bộ giảng viên như lương bổng, phòng ốc, trang thiết bị, phòng thí nghiệm còn hạn chế, nhất là để tham gia nghiên cứu khoa học tầm quốc tế. Nếu giải được hai điều này thì các trường ĐH có thể bật cao hơn nữa.
Theo người lao động
Nhiều ngành khối C tiếp tục "ế"
Không ngoài dự báo, nhiều ngành khối C tiếp tục "ế", rõ nét nhất là các ngành của khối sư phạm, khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV). Có ngành thí sinh thi ít hơn chỉ tiêu.
Thống kê hồ sơ đăng ký dự thi (ĐKDT) theo ngành của nhiều trường cho thấy hồ sơ tuy có tăng nhẹ nhưng hàng loạt ngành sư phạm, ngoại ngữ vẫn rơi vào cảnh thí sinh ít hơn chỉ tiêu. Bên cạnh đó, nhiều ngành công nghệ cũng trong cảnh tương tự. Đáng nói là tình trạng này không chỉ diễn ra ở các trường ĐH vùng, ĐH địa phương mà ngay cả các trường ĐH lớn, uy tín cũng không nằm ngoài bức tranh chung này.
Nguy cơ đóng cửa nhiều ngành sư phạm
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM - một trong những trường ĐH trọng điểm, chuyên đào tạo sư phạm nhưng theo số liệu thống kê hồ sơ theo ngành do trường này công bố, hàng loạt ngành có hồ sơ ít hơn chỉ tiêu rất nhiều.
Trong khi một số ngoài sư phạm có hồ sơ tăng so với năm 2011 thì ở chiều ngược lại, nhiều ngành sư phạm, ngoại ngữ lại giảm đáng kể. Chẳng hạn các ngành sư phạm tin học, vật lý, hóa học, sinh học đều có số hồ sơ ĐKDT giảm. Nhiều ngành sư phạm và cử nhân khác càng đáng ngại hơn khi hồ sơ chỉ lèo tèo so với chỉ tiêu.
Ngành giáo dục quốc phòng an ninh có 120 chỉ tiêu nhưng chỉ có 12 hồ sơ, sư phạm tiếng Nga, Pháp, vật lý, văn học quốc tế học đều có hồ sơ ít hơn chỉ tiêu.
Tại ĐH Đà Nẵng, các ngành sư phạm thuộc Trường ĐH Sư phạm tuy khả quan hơn nhưng tại Trường ĐH Ngoại ngữ, hồ sơ vào nhiều ngành ngoại ngữ lại hết sức đáng ngại. Các ngành sư phạm tiếng Pháp, Trung và các ngành ngôn ngữ Nga, Thái Lan đều có hồ sơ ít hơn chỉ tiêu. Thí sinh dự thi vào các ngành này sẽ "một mình một ngựa" thong dong mà không gặp phải sự cạnh tranh nào từ thí sinh khác.
Tại Trường ĐH Bách khoa, ngành sư phạm kỹ thuật công nghiệp chỉ có 40 hồ sơ trong khi chỉ tiêu ngành này là 60. Cũng với tình cảnh này, sư phạm tiếng Pháp tại Trường ĐH Cần Thơ chỉ có 26 hồ sơ trong khi chỉ tiêu là 40.
Tương tự, ông Hoàng Xuân Quảng - phó hiệu trưởng Trường ĐH An Giang - cho biết tình hình hồ sơ ĐKDT vào các ngành sư phạm năm nay cũng không mấy khả quan so với năm trước. Mặc dù trường chủ động giảm chỉ tiêu các ngành sư phạm nhưng nhiều ngành như sư phạm vật lý, sinh học, hóa học, tin... đều có hồ sơ ít hơn chỉ tiêu. Nhiều khả năng viễn cảnh đóng cửa nhiều ngành sư phạm như năm 2011 tại trường này sẽ tiếp tục diễn ra.
Trong kỳ tuyển sinh năm trước, hàng loạt ngành sư phạm tại Trường ĐH An Giang phải đóng cửa do không có người trúng tuyển.
Khối C lép vế
Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, hồ sơ ĐKDT năm 2012 vào ngành KHXH&NV với tỉ lệ 4,43% thí sinh dự thi cho thấy sự "lép vế" rất rõ của ngành này. Trên 1,8 triệu lượt hồ sơ chỉ có hơn 80.000 hồ sơ ĐKDT vào ngành KHXH&NV. Thực tế, khi xét theo số lượng hồ sơ thì nhóm ngành này lại giảm đến gần 8%, từ khoảng 87.000 hồ sơ năm 2011 còn 80.298 hồ sơ.
Ở ĐHQG Hà Nội, sự chênh lệch về nhóm ngành KHXH&NV và các nhóm ngành còn lại, nhóm hồ sơ thi khối C và các khối A, B, D vẫn khá lớn. Theo ông Đinh Việt Hải - phó trưởng phòng đào tạo Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), tổng số hồ sơ dự thi khối C vào tất cả các trường, các khoa của ĐH này giảm từ 5.800 năm 2011 xuống còn 5.600. Sự sụt giảm mạnh mẽ nhất diễn ra ở ngành luật.
Tại Trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG TP.HCM), dù tổng số hồ sơ ĐKDT vào trường tăng khoảng 1.300 so với năm trước nhưng chủ yếu tập trung các ngành tuyển khối D1. Trong đó khối C chỉ có 3.979 hồ sơ, chưa đến 1/3 tổng số hồ sơ ĐKDT của trường này. Những ngành có lượng hồ sơ tăng tuyển khối D1 hoặc có thêm khối khác ngoài khối C (B, D1) như ngôn ngữ Anh (có lượng hồ sơ nhiều nhất), tâm lý học, du lịch, báo chí và truyền thông.
Cũng như những năm trước, các ngành triết học, lịch sử, giáo dục học, lưu trữ học... đều có tỉ lệ "chọi" rất thấp. Ba ngành học có số ĐKDT thấp nhất trường có dưới 100 hồ sơ là ngôn ngữ Tây Ban Nha, ngôn ngữ Đức và nhân học.
Nhắm mắt đào tạo
Ông Trần Anh Tuấn, phó giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM, cho rằng VN đang trong giai đoạn phát triển mạnh các ngành dịch vụ thu hút nguồn nhân lực lớn nên cũng là cơ hội cho các trường đào tạo khối ngành kinh tế. Trường đào tạo kinh tế mở càng nhiều thì học trò càng đua nhau học vì có nhiều cơ hội và nhiều người học thì có thêm nhiều trường mở ra...
"Ở các nước, mỗi năm các doanh nghiệp phải báo với cơ quan nguồn nhân lực nhu cầu họ cần và việc này được thực hiện trước 20-30 năm. Trong khi ở VN cứ nhắm mắt đào tạo, không cần biết nhân lực ở từng ngành nghề thừa thiếu ra sao và cũng không biết trách nhiệm thuộc về ai" - ông Tuấn nói.
Theo PGS.TS Đỗ Văn Dũng, phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, sở dĩ những ngành khối C ngày càng ít thí sinh lựa chọn vì phần lớn những ngành này ra trường làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp. Cơ hội việc làm, lương bổng của những ngành này thường không cao. Chính khâu tư vấn hướng nghiệp hiện nay còn hạn chế, rất nhiều ngành học thú vị, cơ hội việc làm cao nhưng học sinh không biết đến.
Việc để học sinh chỉ tập trung vào nhóm ngành kinh tế sẽ tạo nguy cơ mất cân đối nguồn nhân lực trong xã hội. Nếu không chú trọng lĩnh vực then chốt, sẽ không thu hút được người giỏi vào những ngành công nghệ cao thì nước ta sẽ dần tụt hậu.
TS Lê Thị Thanh Mai, trưởng ban công tác sinh viên ĐHQG TP.HCM, cho rằng hiện nay học sinh rất dễ tìm thấy thông tin tuyển dụng nhóm ngành kinh tế, trong khi thông tin này ở các ngành khoa học cơ bản lại rất hiếm. Thực tế, nhu cầu nhân lực của các ngành khoa học cơ bản cũng không nhiều và chủ yếu ở các trung tâm, viện nghiên cứu, đơn vị thuộc Nhà nước.
Sự lựa chọn ngành học của thí sinh còn phụ thuộc vào khối thi. Ở nhóm ngành kỹ thuật công nghệ có rất nhiều khối thi (A, B, D...), trong khi nhóm ngành KHXH&NV chủ yếu là khối C, D. Việc nhóm ngành khoa học xã hội liên tục "ế" chắc chắn dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực, cán bộ trong lĩnh vực này. Trong khi nhóm ngành khoa học xã hội gắn với đào tạo con người nên rất quan trọng và rất cần cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Theo Tuổi Trẻ
Đại học Đà Nẵng công bố tỉ lệ "chọi" Ban tuyển sinh ĐH Đà Nẵng vừa công bố tỉ lệ "chọi" theo từng ngành của các trường thành viên. Theo đó, Trường ĐH Sư phạm có tỉ lệ chọi cao nhất với 11.970 hồ sơ đăng ký dự thi trên 1.500 chỉ tiêu. Sau đây là số liệu chi tiết tỉ lệ chọi vào các ngành của từng trường thành viên thuộc...