Quá khứ buồn của chàng sinh viên trẻ và những bước đi không mỏi
Vượt qua tuổi thơ đầy khó khăn cùng với những nỗi đau buồn của gia đình. Mới 21 tuổi, Đỗ Trường Hùng đã trải qua biết bao nỗi truân chuyên, khó nhọc để mưu sinh và hơn hết là để được học tập và thực hiện những lí tưởng, hoài bão của bản thân.
Sinh ra và lớn lên tại Hưng Hà (Thái Bình), cậu sinh viên Đỗ Trường Hùng không được may mắn như nhiều bạn đồng trang lứa. Ở tuổi 21, cậu đã trải qua biết bao nỗi truân chuyên, khó nhọc để mưu sinh và hơn hết là để được học tập và thực hiện những lí tưởng, hoài bão của bản thân. Những câu thơ của cậu, cứ day dứt tôi mãi về một tấm gương tràn đầy nghị lực, biết vượt lên chính mình, thấy “sóng cả” luôn “vững tay chèo”
Sinh viên Đỗ Trường Hùng lớp Báo In K34A2-Học viện Báo chí Tuyên truyền
Quá khứ buồn
Dáng người dong dỏng cao, từ đôi mắt kính dày hơi xộc xệch, áo phông kẻ sọc ngang đã ngả màu nâu và quần vải cũ đến đôi dép lốp được chủ nhân tự hào khoe là quà của mẹ nhân ngày nhập học đều toát lên một vẻ rất giản dị, rất bình thường, thậm chí là đau lòng. Điều khiến người đối diện cảm thấy ấn tượng nhất có lẽ đến từ nụ cười hiền đến ngây ngô, nói về chuyện gì cậu cũng cười dù là chuyện vui hay những chuyện buồn ra nước mắt.
Đỗ Trường Hùng, sinh năm 1994, sinh viên chuyên ngành Báo in, Học viện Báo chí và Tuyên truyền sinh ra và lớn lên ở đất Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Gia đình nghèo khó, cha là một ông giáo già có 5 đời vợ, mẹ Hùng là người vợ thứ tư bươn chải bán hoa ngoài thị trấn. Nói về gia đình trong một bức thư gửi em trai mình, cậu từng viết: “Tôi và em tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà giáo buồn… Nhiều lần bố say, đuổi đánh mẹ, hai anh em chạy theo mẹ khóc: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”, những cơn gió đông dưới chân, những mảnh áo rách trên thân tôi rung rung. Mùa đông không khóc bởi nước mắt đã cạn khô lâu lắm rồi”. Khi Hùng lên mười thì cha chuyển vào Đắk Lắk sinh sống và lập gia đình mới ở đó, để lại người phụ nữ là mẹ cậu tần tảo nuôi hai đứa con thơ dại. Hai anh em sống trong sự ghẻ lạnh của nhà nội, chưa từng được bà nội đem cho cái bánh, cái kẹo hay mua cho tấm áo, cái quần nhưng Hùng vẫn luôn nhắc nhở em phải kính trọng bà và các cô, chú bởi dù sao thì “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. May mắn có đằng ngoại luôn dành thật nhiều tình yêu cho hai đứa cháu thiếu thốn tình cảm. Có lẽ trong kí ức của cậu sinh viên nghèo, mẹ và bà ngoại là niềm an ủi lớn nhất, là nơi để mỗi khi nghĩ về Hùng luôn cảm thấy được yêu thương.
Cấp 3, Hùng học tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên Hưng Hà, rồi học Cao đẳng xây dựng công trình đô thị sau khi không đạt được nguyện vọng ban đầu là trường Đại học Mỏ – Địa chất. Cuộc đời có lẽ sẽ cứ bình lặng như thế nếu không có những biến cố xảy ra. Nghe tin cha mất, Hùng tức tốc lặn lội vào Đắk Lắk nhưng không kịp nhìn mặt cha lần cuối. Nỗi đau mất người thân cùng nỗi day dứt ân hận về khoảng thời gian vì giận cha bỏ mẹ con mình mà đã lạnh nhạt, thờ ơ với ông cứ mãi đeo đẳng trong tim chàng trai trẻ. Đến khi đã trưởng thành, cậu mới thấm thía tình cảm thầm lặng của người cha bất mãn với cuộc đời phải tìm đến rượu để quên sầu mà vô tình làm tổn thương tâm hồn non trẻ của con lúc trước. Rồi trong Hùng đã trỗi dậy khao khát được viết, được tiếp nối nghề viết của cha. Hùng nghỉ học, vừa đi làm bảo vệ kiếm tiền trang trải vừa ôn thi lại vào Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Mỗi ngày chỉ ngủ vài tiếng, học 18 tiếng mỗi ngày, phòng trọ tồi tàn chật hẹp với nhà vệ sinh luôn bốc mùi vì bị tắc, ăn uống kham khổ chủ yếu dựa vào 15 kg gạo và 5 – 6 quả bí mẹ gửi từ quê lên hay thỉnh thoảng được bác chủ nhà cho chút đồ ăn thừa. Nhưng ý chí mạnh mẽ của cậu đã đập tan đi mọi khó khan, thử thách, cậu đỗ vào Khoa Báo Chí với số điểm 24,5 khối C.
Trường Hùng chụp ảnh cùng em trai trong lễ tốt nghiệp
Video đang HOT
Những tháng năm đại học đẹp đẽ
Trong tâm thức của hùng, những năm tháng cậu gắn bó dưới mái trường đại học rất ý nghĩa. Hùng là sinh viên hiếm hoi chưa nghỉ một buổi học nào trừ lí do bất khả kháng. Trong nhiều năm liền, điểm số của Hùng luôn dẫn đầu. Ít ai biết rằng, Hùng phải tự thân kiếm tiền trang trải việc học và mọi chi phí hằng ngày. Cậu chọn nghề chạy xe ôm và buôn bán sách cũ. Khi được hỏi về lí do tại sao chọn nghề đó, cậu trả lời: “Mình chạy xe ôm bởi vì mình biết có nhiều người muốn mong ngóng về nhà. Còn bán sách cũ vì mình yêu sách, muốn tìm cho nó chủ nhân xứng đáng.”
Không những thế, Hùng còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, đặc biệt là hoạt động hiến máu nhân đạo, bê vác dưa hấu giúp người dân trong chiến dịch giải cứu dưa hấu,… Có lẽ thời gian cậu miệt mài, hoạt động học tập, bền bỉ tu dưỡng đạo đức đã đến ngày “hái quả”, cậu được kết nạp Đảng. Hùng tâm sự: “Đây là vinh dự lớn cho cả đời mình. Nhất định mình phải làm tốt hơn thế nữa.”
Cậu sinh viên báo chí còn rất yêu và tâm huyết với nghề. Mặc dù còn chưa quá xuất sắc trong các tác phẩm, tuy nhiên sự ham học hỏi, chịu khó của cậu đã giúp cậu vươn lên và ngày càng có nhiều kĩ năng nghiệp vụ. Chỉ còn 1 vài tháng nữa, nếu không có gì thay đổi, Trường Hùng sẽ tự tin bước ra khỏi cánh cổng đại học với tấm bằng xuất sắc.
Trường Hùng chụp hình cùng vợ nhà văn Sơn Tùng – bà Phan Hồng Mai
Cháu nuôi của nhà văn Sơn Tùng
Trường Hùng cho hay, cậu mến mộ nhà văn Sơn Tùng từ những ngày còn học phổ thông. Sau khi đỗ đại học Hùng mới có dịp được đến thăm tận nhà ” tác giả Búp Sen Xanh” và xin nhận làm cháu. Đối với gia đình nhà văn Sơn Tùng, ông và vợ coi Hùng như con cháu trong nhà. Hùng chia sẻ thêm cậu quan tâm đến ông bà, đối xử thật lòng nên ông bà rất quý. Tình cảm chân thành, chân thật với nhau tự dung đi vào lòng nhau lúc nào không hay. Cứ thứ 7 hàng tuần Hùng thường về thăm và giúp ông bà lau dọn bàn thờ gia đình.
Khi được hỏi về động lực vươn lên trong cuộc sống, cậu sinh viên với dáng người cao gầy bồi hồi kể lại kỉ niệm về những ngày tháng say mê đọc từng tác phẩm viết về thời niên thiếu của Bác Hồ trong cuốn Búp Sen Xanh của nhà văn Sơn Tùng – cuốn sách khơi dậy nghị lực mạnh mẽ trong Hùng, giúp cậu sinh viên vững bước trên mọi con đường.
Minh Thùy
Theo infonet.vn
Người mẹ với nếp nhà
Nhân ngày Xuân, bàn về vai trò người mẹ trong nếp nhà, trong văn hóa dân tộc cũng là một điều đáng để tâm; nhất là trong bối cảnh không gian sinh tồn của chúng ta cứ bị kéo ra khỏi quê hương bản quán, do công việc, do mưu cầu sự sống...
Tôi may mắn được là học trò GS Nguyễn Khắc Phi, là đồng nghiệp của nhà văn Nguyễn Khắc Phi. Họ đều là con của cụ Nguyễn Khắc Niêm (1889 - 1954), và là em của BS Nguyễn Khắc Viện. Năm 19 tuổi, cụ Niêm đỗ Hoàng giáp, được dự ngự yến.
Cụ Đoàn Thị Viên. Ảnh: T.L
Cụ Niêm làm quan đến Án sát rồi Bố chánh Nghệ An; Phủ doãn phủ Thừa Thiên. Cụ không ưa Pháp và Pháp cũng không thích cụ, nên xin nghỉ hưu sớm, năm 1942, khi mới 53 tuổi. Theo nhà văn Sơn Tùng, cụ Niêm nổi tiếng thanh liêm, ủng hộ những người cách mạng, đã từng ngầm trao mật gấu cho người tù chính trị bị tra tấn rồi nới lỏng cho trốn đi; năm 1945, cụ được mời làm ủy viên Liên Việt khu 4.
Làm quan thì dẫu thanh liêm cũng có thể tậu ruộng, xây nhà cao cửa rộng. Nhưng bằng chứng về mặt thanh liêm là cụ không biết trong nhà có bao nhiêu tiền. Năm 1945, nhân Tuần lễ vàng, tại cơ quan huyện, cụ được gợi ý quyên góp vàng cho kháng chiến và cụ đã xung phong hiến 20 lượng vàng.
Cụ bà kêu giời: Ối ông ơi, ông có biết một lượng vàng là bao nhiêu mà xin hiến hai mươi lượng? Rồi cụ vét nhẵn đồ trang sức của mình, tiền tích cóp cũng chỉ được vài lượng. Nhưng nhời hứa của chồng là gia lệnh tối nghiêm, là gia sỉ với dân nước. Cụ phải bán gần hết số ruộng, rồi vay mượn thân nhân đằng ngoại mới đủ số vàng đưa cụ ông đi quyên góp.
Đó là cụ Đoàn Thị Viên (1902 - 1986), kế thất của cụ Niêm. Vợ cả cụ Niêm là Nguyễn Thị Cán, sinh 7 lần, nuôi được 6 người con, BS Nguyễn Khắc Viện là trưởng nam, con thứ ba. Năm 1922, cụ Cán mất, cụ Niêm lấy cụ Đoàn Thị Viên và họ sinh được 9 người con. Điều rất lạ là năm 1954 - 1956, gia cảnh cụ Viên lâm vào thế ngặt nghèo, oan khốc và đói khát nhưng đàn con khác mẹ của cụ thì đã cố kết quanh "mự" mà qua cơn bĩ cực. Các con khác mẹ của cụ, ngoài những người đã trưởng thành tham gia kháng chiến như Nguyễn Thị Vàng, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương (trưởng nam của cụ) hơn mười người còn lại đã mỗi người mỗi việc, mò cua bắt ốc, cấy thuê gặt mướn, cô gái út 7 tuổi thì đi bán trứng luộc ngày đêm ngoài Ga Vinh, nhưng tất cả đều quấn túm bên mẹ hai mà nuôi nhau. GS Nguyễn Khắc Dương kể:
" Mẹ tôi rất tiết kiệm, đôi khi hơi thái quá. Sau này chúng tôi nhắc lại thời thơ ấu, có ý phê bình bà cụ. Bà cụ bảo: "Ai lại không muốn ăn ngon mặc đẹp. Nhưng, ngay từ lúc đầu về với thầy, thầy bảo rằng: &'Bà là nội tướng, bà liệu làm sao cho vừa với đồng tiền lương chứ tôi không có bổng lộc gì khác đâu. Một số quan lại tham nhũng phần lớn là do người vợ không biết cần kiệm. Tôi có giữ được thanh liêm, phần lớn là nhờ bà". Vì vậy mự lo lắng lắm: phải chi tiêu có chừng mực, con thì đông, việc họ việc làng, còn phòng khi đau ốm nữa, chứ đâu phải keo kiệt gì".
Mự ở Vinh. Ảnh: T.L
BS Nguyễn Khắc Viện nói về mẹ kế:
"...Mẹ kế tôi cũng là mẫu người của xã hội xưa, không được đi học, sau này chúng tôi mới dạy bà chữ quốc ngữ, nhưng thực chất bà cũng có một trình độ văn hóa nhất định. Vốn xuất thân từ gia đình nhà Nho, từ bé đến lớn nghe các bác, các chú, các anh học hành, thành ra bà thuộc lòng khá nhiều văn thơ. Đặc biệt là Truyện Kiều, bà nhớ không sót một câu nào. Kể cả văn thơ chữ Hán, bà cũng thuộc nhiều. Có lần, khi có dịch thổ tả, bà con nhờ thầy tôi chép lại bài Chính khí ca để dán lên nhà. Thầy tôi không có bản gốc, mà cũng quên, thế là mự tôi đọc cho ông chép lại cả bài...."
Từ ngày về hẳn quê ở (1942), gương cần kiệm của cụ lại còn tác động tốt tới con cái về những mặt khác. Cụ còn cùng bà con nông dân bửa cau, phơi thóc, cuốc cỏ. Cụ vẫn làm đủ loại bánh trái theo kiểu Huế, nhưng cụ còn trực tiếp làm tương, muối cà thành thạo theo kiểu Nghệ. Cụ trực tiếp nuôi tằm, trực tiếp may lấy hầu hết quần áo cho các con. Đặc biệt vườn trầu do cụ trực tiếp trồng, chăm sóc có lẽ là vườn trầu đẹp nhất huyện Hương Sơn. Có một người mẹ như thế, đàn con, dù là con nhà quan mới bước từ thành thị về, làm sao có thể lười biếng xa hoa được, làm sao có thể sống tách biệt với bà con dân làng được? Nhiều vườn ruộng, nhưng cụ chỉ thuê duy nhất một tá điền, giúp việc là Nguyễn Đình Trung, gọi là con nuôi. Còn mỗi con mỗi việc. Việc cụ Viên trực tiếp cùng làm rồi bảo ban các con là nuôi hươu sao lấy nhung và trồng cau trầu. Cụ liền trầu nổi tiếng đẹp với triết lý, lá bao ngoài phải to phải đẹp, nhưng lá bên trong nếu toàn bé xấu thì người mua "nhận ra" ngay cái lòng dạ của người liền. Hôm sau sẽ mất khách. Ăn ở với bạn bầu, họ hàng cũng vậy. Nhà mình có bát ăn, họ hàng đằng ngoại hai bề (cụ Cán ở Sơn Thịnh cùng huyện, cụ Viên ở Thanh Chương) họ đằng nội bốn bên mỗi khi đến nhà không thể không chu đáo. Lỡ bữa thì nhịn miệng đãi khách, chứ để lỡ mang tiếng thì nhục với cả hai bề bốn bên. Đã nhục thì nhục cả đời.
Gia đình tại dinh Phủ Doãn. Ảnh: T.L
Cái cách thương yêu con của cụ Viên thật công bằng theo nghĩa đứa yếu bấy hoặc cá tính khác biệt thì cần chăm chút đặc biệt, chứ không kể nó là con ai đẻ ra.
Nhưng cây quế thơm đến lá cũng thơm. Tôi chỉ là học trò, là bạn của con cụ, chưa bao giờ có hân hạnh biết cụ nhưng bài học về nhân cách cụ thì nhuần thấm trong tôi trong quá trình phục dựng nếp nhà mình. Tôi hình dung 14 người con trưởng thành, nhiều người có danh vọng như Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi...ở giữa giữa như Nguyễn Khắc Phê rồi rất nhiều phụ nữ ít người biết đến. Nhưng tất cả đều biết quý trọng và sử dụng thơ văn, hẳn họ đã tạo dựng thành 14 nếp nhà đậm đà hình ảnh cụ dù không có cụ. Nếu mỗi nếp nhà, nếp họ góp làm nên nếp văn hóa dân tộc như cụ Đào Duy Anh nhận định, thì gia đình cụ Nguyễn Khắc Niêm - Đào Thị Viên đáng kể là công đầu. Họ tạo nên nét nhân văn, khoáng đạt, trung chính và khoan dung công bằng.
Vâng, phúc đức tại mẫu!
Theo Danviet