Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: Sự thay đổi luẩn quẩn
Theo thầy Đào Tuấn Đạt, các môn học ở chương trình giáo dục phổ thông tổng thể tưởng toàn diện nhưng rất phiến diện, nên việc chọn nhiều hay ít môn học cũng tạo một vòng luẩn quẩn.
Mới đây, Ban chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo khoa thông qua chương trình giáo dục phổ thông tổng thể dựa trên cơ sở góp ý của các chuyên gia, nhà quản lý cũng như xã hội.
Đây là căn cứ để xây dựng dự thảo các chương trình môn học và hoạt động giáo dục. Chương trình tổng thể sẽ được tiếp tục xem xét để ban hành chính thức cùng các chương trình môn học và hoạt động giáo dục.
Ông Đào Tuấn Đạt – lãnh đạo trường THPT Anhxtanh, Hà Nội, đồng thời là giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội, có những trao đổi thẳng thắn với Zing.vn xung quanh văn bản được Bộ GD&ĐT công bố ngày 29/7.
Thực chất chương trình không giảm tải
- Ông nhận xét gì về Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể vừa được thông qua?
- Bản sửa đổi lần này không có bước tiến nào về tư duy so với các bản dự thảo được công bố trước đây. Giáo dục sẽ vẫn chạy theo quán tính cũ và buộc lòng chúng ta phải xem nền giáo dục vẫn đang tiếp tục thời kỳ quá độ dài lâu.
Vì không có sự thay đổi nào về nguyên lý và cách nhìn nên tất yếu sự thay đổi là chắp vá và không có logic. Đó chỉ là sự bày biện lại những điều đã cũ, thay đổi cách gọi tên và bổ sung vài chi tiết còn chưa được kiểm nghiệm về mặt khoa học.
Chương trình cấp tiểu học. Ảnh chụp màn hình.
-Với chương trình này, học sinh có được giảm tải so với chương trình cũ và chương trình được công bố lần thứ nhất vào tháng 4?
- Nhìn vào bản dự thảo có thể thấy tổng số tiết một tuần vẫn là 29 thì không hề giảm.
Giảm tiết môn này lại nhồi vào môn kia như môn Trải nghiệm. Giảm một cách cơ học, đồng đều không lưu ý đến chuyên môn thì thật tai hại. Tôi lấy ví dụ môn Toán của chương trình mới chỉ còn 3 tiết một tuần thì không biết học sinh sẽ học như thế nào, lại giống cưỡi ngựa xem hoa và đi học thêm.
Khi sĩ số lớp đông, năng lực tự học yếu, thời gian lại không đủ thì chắc chắn sẽ dẫn tới quá tải cơ học. Chuyên sâu về toán thì không đủ thời gian. Không chuyên sâu, chẳng hạn chọn định hướng văn chương hay nghệ thuật, thì toán lại thừa.
Tình trạng cần học thì không đủ thời gian mà không cần vẫn phải học sẽ lại diễn ra như hiện nay. Những bất cập vẫn như cũ.
- Ở cấp THPT, có 5 môn học tự chọn, quan điểm của ông thế nào?
- Vì sao Ban soạn thảo chương trình chọn 5 môn học, tôi không thấy lý giải trong văn bản. Tuy nhiên, trên báo chí, Ban soạn thảo cho rằng nhiều quốc gia khác còn chọn nhiều môn học hơn, cách chọn 5 môn sẽ “bền vững” hơn.
Tôi không hiểu bền vững hơn nghĩa là gì? Học môn nào hay học bao nhiêu môn được tư duy theo cách đó thì giáo dục chẳng khác gì như trò chơi “ô ăn quan” của thiếu nhi.
- Vậy, việc lựa chọn môn học phải như thế nào?
- Giáo dục phổ thông hiện đại phải có ba đặc trưng. Một là toàn diện, hai là phân hóa và ba là chuyên sâu.
Giáo dục toàn diện không phải học tất cả môn và thi hết các môn. Toàn diện ở đây là học sinh phải phát triển cả về các môn văn hóa, đạo đức, thể thao, nghệ thuật… Học hết 11 môn “truyền thống” như chương trình hiện hành cũng không toàn diện. 11 môn này cũng chỉ chiếm một phần nhỏ trong các môn học ở phổ thông hiện nay (Australia có khoảng 50 môn học ở phổ thông).
Video đang HOT
Không ai có thể và không cần học hết 11 hay 50 môn. Người ta phải chia các môn học thành các lĩnh vực khác nhau. Để đảm bảo tính toàn diện học sinh phải học tất cả các lĩnh vực. Nhưng chỉ chọn một vài môn thậm chí một phần của môn đó để học. Trung bình trên thế giới hiện nay là 6 môn.
Còn ở Việt Nam, chúng ta nhìn vào các môn học tưởng là toàn diện nhưng lại rất phiến diện, bởi thiếu cốt lõi là hiểu biết các môn đó nằm ở lĩnh vực nào. Vì vậy, chọn ít môn học thì lo thiếu toàn diện, chọn nhiều lại lo quá tải, tạo thành một vòng luẩn quẩn.
Học phổ thông để tạo tiền đề cho việc học suốt đời, cốt yếu là phương pháp để tự học chứ không phải kiến thức nhồi sọ.
Còn phân hóa và chuyên sâu có thể hiểu mỗi học sinh có một thiên tư khác nhau. Thế nên, giáo dục phải phân hóa. Học sinh phải được chú trọng các môn sở trường của họ. Các môn sở trường thì phải chuyên sâu.
Hiện tại, xu thế chung của thế giới là chương trình cử nhân chỉ còn 3 năm. Không phải là chương trình được cắt ngắn một cách cơ học mà đã được dạy chuyên sâu ở phổ thông rồi.
Nhìn vào chương trình của ta, tất cả môn học đang dàn hàng ngang để đi. Làm gì có ai sở trường mà tới cả 5 môn. Học sinh sẽ lại phải đối phó và trong nhà trường vẫn sẽ tồn tại khái niệm phản giáo dục là môn chính, môn phụ.
Chương trình không đáp ứng được góc nhìn thế giới
- So với góc nhìn thế giới, chương trình Việt Nam đáp ứng được những gì, đã được coi là hội nhập chưa?
- Một chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đúng nghĩa như một văn bản khoa học thì phải trả lời được các câu hỏi sau.
Thầy Đào Tuấn Đạt. Ảnh: NVCC.
Thứ nhất là triết lý giáo dục, có thể hiểu điều này đơn giản là chúng ta mong muốn nền giáo dục sẽ sinh ra con người như thế nào. Xưa thì giáo dục phải đào tạo con người “vừa hồng vừa chuyên”, nay thì phải đặt ra câu hỏi làm sao để đất nước không bị tụt hậu về kinh tế, khoa học…
Thứ hai là mục tiêu của từng cấp học.
Thứ ba là nguyên lý, phương pháp giáo dục. Nếu trước khia chúng ta học theo cách thầy đọc trò chép thì nay cần học như thế nào?
Thứ tư là kiểm tra đánh giá, trong đó cần nêu rõ kiểm tra cái gì, lúc nào, bằng phương pháp nào?
“Học sinh phải học nhiều nhưng vẫn thiếu tư duy khoa học, con người chỉ lớn lên chứ không trưởng thành lên được. Nhìn ra xung quanh, chúng ta chỉ thấy mình kém cỏi. Đó trước hết là do giáo dục”.
Ông Đào Tuấn Đạt
Cả bốn vấn đề trên đều mờ nhạt, thiếu căn cứ khoa học trong bản chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Vì vậy, tôi không biết đặt văn bản này vào đâu trong góc nhìn với thế giới.
- Lần sửa đổi này không đạt được những kỳ vọng, mong đợi của ông?
- Tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi cho rằng khi chưa có nhận thức đúng về bản chất, mục đích, nhiệm vụ giáo dục sẽ dẫn tới định hướng sai về chương trình, phương pháp giảng dạy và hình thức thi cử, từ đó dẫn tới “dạy giả”, “học giả”, nhồi nhét, đánh đố, khoa trương hình thức mà không nắm được tinh thần, bản chất, cốt lõi của vấn đề.
Học sinh phải học nhiều nhưng vẫn thiếu tư duy khoa học, con người chỉ lớn lên chứ không trưởng thành lên được. Nhìn ra xung quanh chúng ta chỉ thấy mình kém cỏi. Đó trước hết là do giáo dục.
Điều tối thiểu cần hiểu đó là đối tượng của giáo dục là khoa học, đạo đức và nghệ thuật. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần có khoa học, kỹ thuật lúc này để phục vụ cho việc phát triển kinh tế. Có đầu óc khoa học sẽ bớt được nhận thức cảm tính, xã hội sẽ bớt phù phiếm và hỗn loạn. Còn thiếu đạo đức thì đâu còn là thế giới của con người nữa. Thiếu nghệ thuật thì đời sống tâm hồn chả khác gì hoang mạc. Chương trình tổng thể đã không nhận thức được ba đối tượng này của giáo dục.
Theo Zing
Những thay đổi mới nhất của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
Bản dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cập nhật đến ngày 21/7 có nhiều thay đổi so với dự thảo cũ được Bộ GD&ĐT công bố vào tháng 4.
Bản dự thảo mới nhất này được chia sẻ tại hội thảo về giáo dục STEM ngày 25/7.
Cấp tiểu học: Thời lượng tiết học giảm
Số tiết học và tên gọi các môn cấp Tiểu học có nhiều thay đổi. Sự thay đổi dễ dàng nhận thấy nhất trong dự thảo mới đây chính là thời lượng các tiết học giảm xuống rõ rệt trong từng lớp.
Cụ thể, lớp 1, 2 giảm từ 1.147 tiết xuống còn 1.015 tiết; lớp 3 giảm từ 1.147 tiết xuống 1.085 tiết; lớp 4, 5 giảm từ 1.184 xuống còn 1.120 tiết.
Bảng tổng hợp kế hoạch giáo dục ở cấp tiểu học.
Về nội dung, các môn học chỉ còn phân chia thành 2 loại: Môn học, hoạt động bắt buộc và môn học tự chọn chứ không phân thành nhiều loại như trước đây (môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn, nội dung giáo dục của địa phương).
Ở cấp tiểu học, các môn và hoạt động giáo dục bắt buộc nội dung và thời lượng các môn Tiếng Việt, Ngoại ngữ (ở lớp 3, 4, 5) không có sự thay đổi. Riêng số tiết môn Toán lớp 5 giảm từ 210 tiết xuống 175 tiết.
Môn Giáo dục Lối sống trong dự thảo cũ được đổi tên thành Đạo đức, đồng thời giảm thời lượng từ 70 tiết ở các lớp 1, 2, 3 xuống còn 35 tiết.
Môn Cuộc sống Quanh ta (ở các lớp 1, 2, 3) được gộp chung thành một môn Tự nhiên và Xã hội. Ở các lớp 4, 5, môn Tìm hiểu Tự nhiên được đổi thành môn Khoa học.
Còn môn Tìm hiểu Xã hội được đổi thành Lịch sử và Địa lý. Thời lượng học tập không thay đổi.
Môn Thế giới Công nghệ dự kiến dạy ở lớp 1 đến lớp 3 trong dự thảo cũ thì trong dự thảo lần này đã bị bỏ.
Hai môn Tìm hiểu Công nghệ và Tìm hiểu Tin học ở lớp 4 và lớp 5 được thay thế bằng môn học Tin học và Công nghệ với thời lượng bằng thời lượng của 2 môn (70 tiết/năm).
Các môn Giáo dục Thể chất, Nghệ thuật vẫn giữ nguyên như dự thảo cũ.
Ngoài ra, hoạt động tự học có hướng dẫn chiếm thời lượng khá lớn trong dự thảo trước đây bị loại bỏ trong dự thảo mới nhất. Nội dung giáo dục địa phương được đưa vào hoạt động trải nghiệm.
Bên cạnh đó, môn Ngoại ngữ 1 được đưa vào một trong 2 môn học tự chọn cho học sinh ngay từ lớp 1 (cùng với Tiếng dân tộc thiểu số).
Dự thảo mới cũng nêu rõ cấp tiểu học thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học. Mỗi tiết học từ 35 phút đến 40 phút giữa các tiết học có thời gian nghỉ.
Đưa hướng nghiệp từ THCS
Cấp Trung học cơ sở (THCS) các môn Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1 không có thay đổi so với dự thảo.
Với môn Giáo dục Công dân, thời lượng ở các lớp 8, 9 giảm từ 52,5 tiết/năm xuống còn 35 tiết năm, giống các lớp 6, 7.
Môn Tin học giảm từ 52,5 tiết/năm giảm xuống còn 35 tiết.
Kế hoạch giáo dục cấp THCS.
Môn Công nghệ và Hướng nghiệp đổi tên thành Công nghệ. Thời lượng ở các lớp 6, 7 giảm từ 52,5 tiết/năm xuống 35 tiết/năm, ở các lớp 8, 9 giảm từ 70 tiết/năm xuống 52 tiết/năm.
Thời lượng các môn Giáo dục Thể chất, Nghệ thuật không thay đổi. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đổi tên thành Hoạt động trải nghiệm.
Mỗi môn học Công nghệ, Tin học, Giáo dục Thể chất được thiết kế thành các học phần; Hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề; học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.
Thời lượng Nội dung giáo dục địa phương ở cấp THCS được tách riêng với khoảng 35 tiết/năm. Các môn tự chọn gồm Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ 2 với thời lượng 105 tiết/năm.
Điểm mới đáng chú ý nội dung hướng nghiệp được đưa vào từ cấp THCS. Cụ thể, dự thảo mới quy định rõ, các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc đều tích hợp nội dung giáo dục hướng nghiệp.
Ở lớp 8 và 9, các môn học Công nghệ, Tin học, Khoa học Tự nhiên, Nghệ thuật, Giáo dục Công dân, Hoạt động trải nghiệm và Nội dung giáo dục của địa phương có học phần hoặc chủ đề về nội dung giáo dục hướng nghiệp.
Với cách tổ chức kế hoạch giáo dục mới, thời lượng giáo dục của cấp THCS giảm từ 58-78 tiết/năm so với dự thảo cũ.
THPT: Có 3 nhóm môn học để định hướng nghề nghiệp
Cấp THPT được gọi là giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp có sự thay đổi khá lớn. Nổi bật nhất là dự thảo mới không tách cấp học này thành 2 giai đoạn với 2 tính chất (dự hướng và định hướng nghề nghiệp) như dự thảo trước mà dồn chung thành một giai đoạn, thông suốt từ lớp 10 đến lớp 12.
Cụ thể, giai đoạn này bao gồm các môn học bắt buộc là Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục Thể chất, Giáo dục Quốc phòng và An ninh, Hoạt động trải nghiệm, Nội dung giáo dục địa phương.
Trong đó, môn Giáo dục Thể chất được thiết kế thành các học phần; hoạt động trải nghiệm được thiết kế thành các chủ đề; học sinh được lựa chọn học phần, chủ đề phù hợp nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường.
Các môn học được lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp gồm 3 nhóm môn. Nhóm Khoa học Xã hội: Lịch sử, Địa lý, Giáo dục Kinh tế và Pháp luật. Nhóm môn Khoa học Tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học. Nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật: Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật.
Nội dung mỗi môn học thuộc nhóm này được thiết kế thành các học phần, học sinh được lựa chọn học phần phù hợp nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường. Học sinh chọn 5 môn học từ 3 nhóm môn học trên, mỗi nhóm chọn ít nhất 1 môn.
Các chuyên đề học tập: Mỗi môn học Ngữ văn, Toán, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật có một số chuyên đề học tập tạo thành cụm chuyên đề học tập của môn học giúp học sinh tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp.
Thời lượng dành cho mỗi chuyên đề học tập từ 10 đến 15 tiết; tổng thời lượng dành cho cụm chuyên đề học tập của một môn là 35 tiết.
Ở mỗi lớp 10, 11, 12, học sinh chọn 3 cụm chuyên đề học tập của 3 môn học phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường.
Về thời lượng giáo dục, nhìn chung, các môn học đặc biệt là lớp 11-12 của dự thảo mới giảm khá nhiều so với dự thảo cũ kể các các môn học bắt buộc cũng như tự chọn. Tổng số tiết học của cấp THPT là 1015 tiết/năm, trung bình 29 tiết/tuần.
Theo Zing
Giáo dục thất bại vì người lớn 'nhồi sọ' học sinh Ông Đào Tuấn Đạt - người phụ trách chuyên môn trường THPT Anhxtanh, Hà Nội - nêu quan điểm cá nhân về chương trình giáo dục phổ thông tổng thể vừa được Bộ GD&ĐT công bố. Sau nhiều lần cải cách, cải tiến, giáo dục của chúng ta vẫn liên tiếp thất bại. Nguyên nhân không phải do chương trình mang nặng tính...