Trẻ dậy thì sớm – nguyên nhân và phòng ngừa
Trẻ dậy thì sớm sẽ gây ra những vấn đề liên quan đến sức khỏe, cấu trúc xương… ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của trẻ. Vậy nguyên nhân nào gây dậy thì sớm. Việc điều trị và phòng ngừa như thế nào?
Bước vào tuổi dậy thì, một quá trình phức tạp được gọi là điều chỉnh trục dưới đồi-tuyến yên-sinh dục (HPG) sẽ xảy ra. Quá trình này bao gồm các bước sau:
Não bắt đầu quá trình: một phần của não gọi là vùng dưới đồi sản xuất gonadotropin-releasing hormon (Gn-RH).
Các hormon tuyến yên tiết ra thêm: Gn-RH chỉ huy tuyến yên – một tuyến hình nhỏ đậu của bộ não – tiết ra thêm hai kích thích tố: luteinizing hormon (LH) và hormon kích thích nang trứng (VSATTP).
Hormon sinh dục được sản xuất: LH và FSH làm cho buồng trứng sản xuất kích thích tố tham gia vào sự tăng trưởng và phát triển các đặc điểm tình dục nữ (estrogen) và tinh hoàn để sản xuất hormon chịu trách nhiệm cho sự tăng trưởng và phát triển các đặc điểm tình dục nam (testosteron). Các tuyến thượng thận cũng bắt đầu sản xuất estrogen và testosteron.
Thay đổi vật lý xảy ra: việc sản xuất estrogen và testosterone gây ra những thay đổi vật lý của tuổi dậy thì.
Cần phát hiện trẻ dậy thì sớm để có biện pháp can thiệp kịp thời.
Nguyên nhân gây dậy thì sớm
Tuổi dậy thì thường bắt đầu ở trẻ em gái ở độ tuổi từ 8 và 12 và ở các bé trai ở độ tuổi từ 9 và 14. Tuổi dậy thì sớm là tuổi dậy thì bắt đầu trước 8 tuổi (đối với bé gái) và trước 9 tuổi (đối với bé trai).
Phân loại dậy thì sớm người ta chia làm hai loại là dậy thì sớm trung ương (trung tâm) và ngoại vi.
Dậy thì sớm trung ương: là do nồng độ GnRH tăng cao từ sự hoạt động quá sớm của trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục. Trong trường hợp hiếm hoi, những điều sau đây có thể gây dậy thì sớm trung ương: khối u trong não hoặc tuỷ sống, viêm não hay viêm màng não; Bức xạ vào não hay cột sống; Sự tắc nghẽn gây thiếu máu cục bộ não, suy giáp (tuyến giáp không sản xuất đủ hormon). Các bệnh lý bẩm sinh của hệ thần kinh trung ương (não úng thuỷ, các kytse màng nhện, loạn sản vách-thị, harmatome…); Hội chứng McCune-Albright-Tăng sản thượng thận bẩm sinh (một nhóm các rối loạn di truyền liên quan đến sản xuất nội tiết tố bất thường của tuyến thượng thận)…
Ngoài ra, thể không hoàn toàn chỉ có một đặc tính sinh dục phụ xuất hiện như: tuyến vú phát triển đơn độc, hay lông mu phát triển sớm đơn độc, hoặc kinh nguyệt xuất hiện sớm đơn độc…
Dậy thì sớm ngoại vi: dậy thì sớm ngoại vi là ít phổ biến hơn so với dậy thì sớm trung ương. Nguyên nhân không phải do tăng nồng độ GnRH, mà các hormon steroids sinh dục tăng cao do bệnh lý tuyến sinh dục (buồng trứng, tinh hoàn) hay thượng thận, một số trường hợp đặc biệt có thể do bài tiết lạc chỗ các hormon hướng sinh dục, có thể do nguồn hormon ngoại sinh quá mức. Cả bé gái và bé trai bị dậy thì sớm ngoại vi có thể do: khối u ở tuyến thượng thận hoặc trong tuyến yên tiết ra estrogen hoặc là testosteron; hội chứng McCune-Albright; tiếp xúc với các nguồn bên ngoài của estrogen hay testosteron, chẳng hạn như các loại kem hoặc thuốc mỡ. Ở trẻ gái cũng có thể được kết hợp với: u nang buồng trứng, các khối u buồng trứng. Ở trẻ trai cũng có thể là do khối u trong các tế bào sản xuất tinh trùng (tế bào mầm), hoặc trong các tế bào mà sản xuất testosteron (tế bào Leydig). Ngoài ra, gene đột biến – một rối loạn hiếm gặp gọi là gonadotropin, là do một khiếm khuyết ở gen, có thể dẫn đến việc sản xuất ban đầu của testosteron ở các bé trai, thường là ở độ tuổi từ 1 đến 4.
Video đang HOT
Các yếu tố khởi phát dậy thì sớm
Một trong những yếu tố làm khởi phát sự bài tiết LH- RH là gene KiSS -1 hay còn được gọi là gene GPR54. KiSS-1 xuất hiện đầu tiên ở vùng dưới đồi. KiSS-1 mã tổng hợp hormon kissepeptin, hormon này liên kết tự nhiên với thụ thể GPR54 (G Protein-Coupled Receptor- thụ thể kết hợp với protein G). GPR54- xuất hiện đầu tiên ở não, tuyến yên, bánh nhau. Ngày nay, hormon Kisspeptin được xác định là yếu tố di truyền khởi động hiện tượng dậy thì do làm tăng tiết hormon LHRH, làm khởi phát quá trình dậy thì. Một số trường hợp dậy thì có thể do các tín hiệu nguồn gốc ngoại vi như leptine, ghreline, IGF-1, insuline và các steroid sinh dục. Vai trò của leptin với khởi phát dậy thì ngày càng xác định, những người thiếu leptin gây dậy thì muộn.
Trẻ dậy thì sớm ảnh hưởng đến sức khỏe như thế nào?
Ảnh hưởng về tâm lý: trẻ dậy thì sớm có những dấu hiệu phát triển sinh lý trước tuổi. Những thay đổi trên cơ thể của trẻ dậy thì sớm khác với những trẻ cùng trang lứa sinh ra những vấn đề tâm lý làm cho trẻ ngại ngùng, dễ làm cho trẻ có tâm lý tự ti và để lại di chứng cho trẻ sau khi trưởng thành.
Chiều cao hạn chế: ảnh hưởng rõ nhất của trẻ dậy thì sớm là phát triển tăng nhanh theo tuổi xương, làm cho trẻ nhìn cao hơn so với các bạn cùng lớp. Tuy nhiên, trẻ dậy thì sớm sẽ làm cho đầu xương đóng khép sớm, rút ngắn thời kỳ sinh trưởng, từ đó ảnh hưởng đến chiều cao của trẻ khi trưởng thành.
Ham muốn tình dục trước tuổi: sự phát triển tâm lý dậy thì quá sớm dẫn đến những hành động ham muốn về sinh lý trước tuổi. Do suy nghĩ còn nông nổi, tuổi đời còn nhỏ, khả năng tự khống chế kém nên không thể tránh khỏi những cạm bẫy xã hội, từ đó dẫn đến mang thai hoặc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.
Hội chứng buồng trứng đa nang: chu kỳ kinh nguyệt trước khi 8 tuổi có nguy cơ phát triển chứng rối loạn nội tiết tố sau này ở tuổi dậy thì gây buồng trứng đa nang.
Làm gì khi trẻ dậy thì sớm?
Nếu nghi ngờ trẻ dậy thì sớm, cần đến khám bác sĩ chuyên khoa nội tiết ở trẻ em (nội tiết nhi khoa). Để chẩn đoán xác định cần làm một số xét nhiệm cận lâm sàng. X – quang bàn tay và cổ tay cũng rất quan trọng, cho thấy nếu các xương đang phát triển quá nhanh; xét nghiệm máu sau tiêm St-RH hormon. Ở trẻ em với dậy thì sớm trung tâm, tiêm Gn-RH và mức hormon LH, hormon kích thích nang trứng tăng. Ở trẻ em với dậy thì sớm ngoại vi, mức độ hormon LH và FSH giữ nguyên. Chụp cộng hưởng từ (MRI) cho trẻ em có dậy thì sớm trung tâm để xem có bất kỳ bất thường của não gây ra sự bắt đầu vào đầu của tuổi dậy thì. Kiểm tra tuyến giáp nếu cho thấy bất kỳ dấu hiệu của suy giáp (chẳng hạn như mệt mỏi, trì trệ, tăng độ nhạy để táo bón, cảm lạnh, giảm hiệu suất hoạt động trường học hoặc khô da nhợt nhạt); có thể làm siêu âm vùng chậu để kiểm tra u nang buồng trứng…
Các phương pháp điều trị dậy thì sớm
Hiện nay, những tiến bộ của y học cho phép việc điều trị dậy thì sớm cho kết quả khả quan. Điều trị dậy thì sớm phụ thuộc vào nguyên nhân.
Điều trị nội khoa: hầu hết trẻ em bị dậy thì sớm trung tâm, có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc. Điều trị này, được gọi là điều trị St-RH, thường bao gồm một mũi tiêm thuốc hàng tháng, như leuprolide, dừng trục HPG và chậm phát triển hơn nữa. Đứa trẻ tiếp tục nhận được thuốc này cho đến khi đến tuổi bình thường của tuổi dậy thì. Một khi dừng thuốc, quá trình dậy thì bắt đầu lại.
Phẫu thuật can thiệp: nếu bệnh do khối u, u nang buồng trứng tuyến thượng thận… gây nên thì phải tiến hành phẫu thuật cắt bỏ. Sau phẫu thuật, trẻ cần được kiểm tra định kỳ ở bệnh viện để xem xét kết quả. Nếu u nằm trong não, việc quyết định phẫu thuật phải được sự đồng ý của bác sĩ ngoại khoa thần kinh.
Phòng ngừa thế nào?
Một số các yếu tố nguy cơ dậy thì sớm, chẳng hạn như giới tính và chủng tộc, không thể tránh khỏi. Nhưng, có những điều có thể làm để giảm nguy cơ của trẻ phát triển dậy thì sớm, bao gồm:
Dinh dưỡng hợp lý: Tăng cường rau củ quả cho trẻ trong bữa ăn hằng ngày, đảm bảo lượng đạm đầy đủ, không nên ăn thực phẩm chế biến sẵn như đồ hộp, xúc xích, bơ…; không tẩm bổ quá mức, hạn chế ăn nhiều đồ ngọt, đồ chiên rán… chứa nhiều chất béo khiến trẻ thừa dinh dưỡng. Chú ý lựa chọn thực phẩm an toàn, tránh mua thực phẩm trôi nổi không uy tín, không rõ nguồn gốc, thực phẩm chứa hormon tăng trưởng sẽ ảnh hưởng tới dậy thì sớm.
Khuyến khích trẻ năng vận động: vận động sẽ giúp trẻ tiêu hao năng lượng như các môn bơi, nhảy dây, đá bóng, đá cầu…
Để đàn ông hết nỗi sợ hẹp niệu đạo
Hẹp niệu đạo là nguy cơ chủ yếu gặp ở nam giới. Khi đó, phái mạnh chẳng thể "nói mạnh" được, bởi hẹp niệu đạo nếu không được điều trị tốt sẽ làm tổn thương dần dần chức năng của bang quang, thậm chí gây suy thận.
Hẹp niệu đạo là tình trạng lòng ống bị thu nhỏ gây cản trở việc tiểu tiện với tiểu khó, tiểu gấp, tiểu đêm. Nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát hay bí tiểu hoàn toàn là những biến chứng hay gặp của hẹp niệu đạo, thậm chí khi chức năng bọng đái bị tổn thương (do điều trị không tốt, hẹp niệu đạo tái phát) dần sẽ dẫn tới suy thận.
Vì sao nam giới bị hẹp niệu đạo?
Bệnh nhân Th.Th.Nh. (76 tuổi) từng mổ nội soi cắt tuyến tiền liệt năm 2014. Ca mổ suôn sẻ với hậu phẫu bình thường và sau đó tiểu tiện cũng bình thường. Nhưng sau mổ 6 tháng, bệnh nhân xuất hiện tiểu khó tăng dần, có tiểu gấp và đôi khi són tiểu, tiểu đêm 3 lần/đêm. Bệnh nhân đi khám và phát hiện hẹp niệu đạo tại 1/3 giữa.
Hẹp niệu đạo thường xảy ra thứ phát sau phẫu thuật lỗ tiểu thấp, phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt, sau đặt ống thông niệu đạo bàng quang, sau chấn thương bộ phận sinh dục, sau viêm nhiễm... Tuy nhiên, có khá nhiều trường hợp hẹp niệu đạo không rõ nguyên nhân.
Đáng lưu ý, hiện nay, tỷ lệ hẹp niệu đạo ngày một cao tương ứng với số can thiệp ngoại khoa qua niệu đạo ngày một phổ biến.
Nỗi lo tái phát
Hẹp niệu đạo là một trong những thách thức lớn nhất với các phẫu thuật viên tiết niệu trên toàn thế giới bởi sự hay tái phát.
Như bệnh nhân Th.Th.Nh. kể trên, lần thứ nhất điều trị hẹp niệu đạo, bệnh nhân đã được nội soi niệu đạo xẻ rộng đoạn hẹp bằng dao lạnh và đặt sonde niệu đạo 2 tuần. Sau khi rút sonde tiểu tiện bình thường, hết tiểu khó. Nhưng đến 8/2018 lại xuất hiện tiểu khó, tiểu gấp và tiểu đêm 3-7 lần/đêm. Siêu âm cho thấy tồn dư nước tiểu, bàng quang chống đối, tuyến tiền liệt 10gr. Chụp niệu đạo ngược dòng: hẹp niệu đạo tái phát nặng tại 1/3 giữa. Bệnh nhân sau đó đã được chỉ định mổ nội soi bằng phương pháp mới là bằng Thulim Laser. Sau mổ bệnh nhân khám định kỳ, 3-6-9 tháng đều cho kết quả tốt: Hết tiểu khó, tiểu đau, không có hẹp niệu đạo tái phát, đặc biệt là hết tồn đọng nước tiểu, bàng quang trở lại bình thường.
Có rất nhiều phương pháp mổ áp dụng trong điều trị hẹp niệu đạo phụ thuộc vào độ dài đoạn hẹp, vị trí, độ sâu, tình trạng sẹo xơ, số lần tái phát...
Các phương pháp mổ mở cắt đoạn niệu đạo hẹp và nối niệu đạo, tạo hình niệu đạo, dẫn lưu niệu đạo ra tầng sinh môn... có nhiều nhược điểm là phẫu thuật phức tạp, thời gian nằm viện kéo dài với ống dẫn lưu, rỉ ướt vùng tầng sinh môn rất phiền phức cho bệnh nhân... và nhất là tỷ lệ hẹp tái phát thường rất cao.
Các phương pháp ít xâm hại đã được áp dụng tùy tình huống: nong niệu đạo đơn thuần, đặt stent niệu đạo, nội soi rạch niệu đạo hẹp bằng dao lạnh và gần đây là nội soi xẻ rộng đoạn niệu quản hẹp với các dạng laser: carbon dioxide, Nd: YAG, the KTP, the Argon và Holium Laser. Nhưng mới nhất và hiệu quả cao nhất là Thulim Laser. Thulium Laser có bước sóng dài 2,013nm cho phép xẻ nông tổ chức mềm dưới 0,4nm. Thulium Laser có những ưu điểm hơn Holium Laser với hiệu quả bốc hơi cao hơn, thực hiện nhanh hơn, cầm máu tốt hơn, ít gây tổn thương tổ chức do nhiệt độ. Do vậy, Holium Laser chủ yếu được sử dụng trong tán sỏi, ngược lại, Thulium Laser lại được ưu tiên cho việc cắt, xẻ tổ chức phần mềm.
Phẫu thuật xẻ niệu đạo hẹp bằng Thulium Laser
Bệnh nhân được gây tê tủy sống và đặt ở tư thế phụ khoa. Phẫu thuật viên sẽ đặt ống soi niệu quản, quan sát rõ đoạn hẹp. Đặt guide wire qua đoạn hẹp. Sử dụng laser fiber 365 micron với công suất 15-20W. Xẻ sâu đoạn sẹo hẹp tại vùng lưng cho đến khi đạt được kích thước tương ứng với niệu đạo bình thường. Thay ống soi niệu đạo 22 Ch, đưa vượt qua đoạn hẹp vào tới bàng quang để chắc chắn rằng đoạn niệu đạo hẹp đã được xử lý tốt. Với nội soi niệu đạo có sử dụng laser, phẫu trường luôn được nhìn rất rõ ngay trong khi xẻ rộng đoạn niệu đạo hẹp, ít chảy máu và ít tạo sẹo sơ sau mổ. Cuối cùng, đặt ống thông niệu đạo bàng quang số 16-20 Ch, lưu ống thông 5-7 ngày.
Chăm sóc và theo dõi sau mổ
Nằm viện 12-24 tiếng.
Không đau, không sẹo mổ.
Rút ống thông niệu đạo bàng quang sau 5-7 ngày.
Khám lại vào tháng thứ 1-3-6-9 sau mổ với niệu động đồ, siêu âm bàng quang đo tồn đọng nước tiểu. Nếu phát hiện có hẹp tái phát cần nội soi lại sớm.
Khuyến cáo tất cả các bệnh nhân có tiểu khó, tiểu nhiều lần, nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát... và đặc biệt là đã có phẫu thuật, chấn thương, viêm niệu đạo cần phải khám chuyên khoa tiết niệu để loại trừ hẹp niệu đạo. Từ nhiều ca bệnh tương tự như bệnh nhân Th.Th.Nh. cho thấy, hiện tại nội soi niệu đạo sử dụng Thulium Laser là lựa chọn số 1 trong điều trị hẹp niệu đạo.
Những chuyện khó nói, nhưng không nên giấu bác sĩ Tất cả chúng ta đều có thể gặp phải những vấn đề mà chúng ta không muốn chia sẻ với người khác. Nhưng có một số vấn đề bạn chắc chắn nên nói với bác sĩ. Shutterstock Trang Body & Soul sẽ cho bạn biết đó là những vấn đề gì. Rối loạn cương dương Phổ biến nhất ở những người đàn ông...