Ông lão ngoài 70 bỗng dưng “nhặt” được vợ tuổi 20
Nếu mới nhìn vào, nhiều người sẽ nghĩ đó là hai cha con hơn là một cặp vợ chồng vì sự chênh lệch về tuổi tác, trong khi người đàn ông luôn tự hào vì mình không phải cưới vợ mà “nhặt” được vợ…
Bỗng dưng “nhặt” được vợ
Khi đến xóm Bãi Giữa ở sông Hồng (thuộc phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội), hỏi ông Thành “cua gơn” (tức “cua girl” – từ mà người xóm chài vẫn quen gọi về ông) không ai là không biết.
Ông Nguyễn Văn Thành
Trong tổng số 29 gia đình đang sinh sống ở xóm Bãi Giữa, gia đình ông Thành có lẽ là trường hợp đặc biệt nhất bởi sự chênh lệch tuổi tác vợ chồng kiểu “trâu già – cỏ non”: Năm nay ông đã 72 tuổi trong khi vợ ông mới 24 tuổi. Nhiều người còn gọi đùa là cặp “bô lão với tin tin”.
Chúng tôi đến gặp ông vừa lúc ông vừa giong thuyền đi thả lưới về. Thấy có khách, ông đon đả mời vào nhà chơi. “Ngôi nhà” là chiếc thuyền có mui che dài khoảng 8m, rộng 2m, đây cũng là tổ ấm của đôi vợ chồng đặc biệt này.
Chiếc thuyền này là tổ ấm của đôi vợ chồng đặc biệt
Ông đun nước pha trà. “Mấy hôm nay mẹ nó về bên nhà ngoại vì có đám giỗ, nay vẫn chưa về”, ông nói như để giải thích cho thiếu sót của gia chủ vì sự ghé thăm đường đột của khách lạ.
Ông tên đầy đủ là Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1940, quê gốc ở huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Trái ngược với suy nghĩ ban đầu của chúng tôi, ông không e ngại mà lại tỏ ra hào hứng khi kể về cuộc tình duyên “chẳng giống ai” của mình mà ông coi đó như định mệnh.
Hơn một năm trước, như thường lệ, vào lúc tờ mờ sáng ông Thành giong chiếc thuyền nhỏ đi thả lưới trên sông. Lúc đến gần phía bờ bên kia của huyện Gia Lâm thì thấy có một bóng người từ trên bờ nhảy xuống sông. Linh tính mách bảo ông có chuyện chẳng lành, ông vội vã chèo thuyền đến và thấy một người đang ngụp lặn chơi vơi giữa dòng nước. Ông vội vã lao xuống, vớt lên thì phát hiện đó là một cô gái còn khá trẻ, chừng ngoài 20 tuổi.
Video đang HOT
Một góc “nhà” của ông Thành.
Ông kể: “Tôi phải khuyên can mãi cố gái mới trấn tĩnh trở lại. Cô ấy nói quê ở huyện Thanh Sơn, Phú Thọ, tên là Nguyễn Thị Thơm. Do nhà hoàn cảnh khó khăn nên chỉ học hết lớp 5 phải bỏ học.
Cách đây 3 năm Thơm xuống Hà Nội làm bưng bê cho một quán bia. Có người đàn ông cùng chỗ làm tán tỉnh Thơm rồi hứa hẹn sẽ cưới làm vợ. Nhưng khi biết tin cô ấy mang thai thì gã này đã nhanh chân “cao chạy xa bay” không một lời từ biệt.
Tuyệt vọng, không dám trở về quê vì sợ gia đình và điều tiếng dư luận, Thơm đã nghĩ đến cái chết và xảy ra sự việc trên”.
Ông Thành đã cứu Thơm ở đoạn sông này.
“Lúc ấy, Thơm đã mang thai được bốn tháng. Biết tôi ở chỉ có một mình, Thơm ngỏ ý xin được ở cùng để “đỡ đần lúc trái gió trở trời” vì lúc đó cô ấy bơ vơ không nơi nương tựa và cô ấy cũng không muốn đứa trẻ sinh ra không có bố. Tôi thì đã già, hơn hai phần cuộc đời đã qua, còn gì nữa đâu mà luyến tiếc. Nghĩ cũng tội cho cô ấy. Thế là tôi nhận lời”, ông Thành chậm rãi kể.
Cũng theo ông Thành, khi mới nghe tin, gia đình nhà vợ nhất quyết phản đối, vì lấy ai chứ lấy một ông già thuyền chài già lụ khụ hơn bố vợ tới… 13 tuổi thì không thể chấp nhận được. “Nhưng khi nghe Thơm nói đã mang thai được bốn tháng thì mọi người trong nhà mới ngớ ra và đành chấp nhận vì… việc đã rồi”, ông Thành cười xòa.
Từng là đàn anh trên giang hồ
Bên ấm trà nóng, khi câu chuyện giữa chủ và khách đã có sự thân tình, người đàn ông tuổi ngoại thất tuần bắt đầu trầm ngâm kể về cuộc đời đầy thăng trầm của mình, mà có những lúc ông tưởng cả đời mình sẽ mãi mãi đắm chìm trong đêm tối.
Ông Thành giải ngũ năm 1975. Một năm sau, ông được một đồng đội cũ xin cho vào làm kiểm lâm ở một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, sau đó thì chuyển về huyện Thường Xuân, Thanh Hóa.
Cái đói và lòng tham đã quật ngã ông. Ông đã liên kết cùng với một đường dây lâm tặc để chặt trộm gỗ trong rừng đem đi bán. Vụ việc bị phát hiện, ông bị bắt giam 3 tháng và bị kỷ luật đuổi khỏi ngành kiểm lâm.
Quá chán nản, ông đã “đầu quân” vào nhóm lâm tặc, tham gia phá rừng và buôn gỗ lậu.
Thế là, vào những năm của thập niên 80 thế kỷ trước, suốt dọc khu vực miền rừng núi phía Tây 2 tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa, không ai không biết đến đại ca Thành “sói”.
Kinh nghiệm của những năm làm kiểm lâm, bản lĩnh cao cường và nhất là máu liều, cùng với võ thuật, đã đưa Nguyễn Văn Thành lên thành “ông trùm” của các băng nhóm lâm tặc, đàn em dưới trướng có lúc đông đến hàng mấy trăm người rải khắp miền núi 2 tỉnh Thanh – Nghệ.
Dưới sự điều khiển của Thành “sói”, những phi vụ phá rừng và buôn gỗ lậu ngày càng quy mô và táo tợn hơn. Nhiều phi vụ khi gặp kiểm lâm, Thành “sói” cùng đàn em đã sử dụng súng và lựu đạn để chống trả quyết liệt.
Đại ca “Thành sói” một thời
Có lần, hàng chuyển về xuôi bị kiểm lâm huyện Con Cuông (Nghệ An) bắt và thu về đồn. Buổi tối, Thành “sói” huy động hàng chục đàn em đến vây quanh đồn, ném lựu đạn vào sân để thị uy rồi ngang nhiên cướp lại gỗ.
Cho đến năm 1989, đường dây lâm tặc liên tỉnh do Thành “sói” cầm đầu mới bị công an hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An phối hợp triệt phá. Thành “sói” cùng nhiều đàn em lần lượt sa lưới và đối diện với các hình phạt của pháp luật. Nguyễn Văn Thành bị tuyên phạt 20 năm tù, giam giữ tại Cầu Cao (Thanh Hóa), sau đó chuyển ra trại giam Yên Khánh (Ninh Bình).
Do ý thức học tập cải tạo tốt, “Thành sói” được đặc xá ra tù trước thời hạn vào năm 2001.
Lúc này vợ cũ ở quê đã đi lấy chồng khác, bố mẹ già ở quê cũng đã mất, ông quay xuống Hà Nội làm bốc vác ở bến xe Long Biên. Một thời gian sau dành dụm được ít tiền, ông mua một chiếc thuyền chọn Bãi Giữa sông Hồng làm nơi cư ngụ.
“Một ông già hơn 70 tuổi, nghèo kiết xác, bỗng dưng lại “nhặt” được vợ, kể ra cũng đáng để tự hào lắm chứ”, ông cười mãn nguyện…
Theo Bee.net.vn
Người chết 15 năm trở về kể chuyện làm "đại ca"
Cứ nhắc đến nhóm của Hiệu, các chủ bãi vàng lại run như cầy sấy. Tuy nhiên, đại ca vang danh một thời cũng có ngày trở về không nguyên vẹn.
Bỏ nhà đi biệt tích từ năm 17 tuổi, không một lần nhắn tin về, gia đình Trần Văn Hiệu tưởng hắn đã chết. Một ngày, cả làng bàng hoàng khi thấy Hiệu trở về với bộ dạng đáng thương, tay cụt, mắt hỏng. Nghèo khó, túng quẫn, Hiệu vẫy vùng tìm cách tháo gỡ. Sau nhiều năm lao vào làm ăn, đến nay Trần Văn Hiệu đã thành tỷ phú từ nghề buôn bán, vận chuyển vật liệu xây dựng và vận tải hành khách.
Trùm giang hồ ngày nào đang trò chuyện với PV
Học võ để làm đại ca nhí
Trần Văn Hiệu (SN 1962, huyện Thanh Miện, Hải Dương) ngày nay nổi danh khắp mấy tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh... với cái tên Trần Cò gắn trên nhiều xe ô tô chở khách. Vậy nhưng mấy người biết được, Hiệu vốn là một tay giang hồ khét tiếng. Được biết, từ thuở nhỏ hắn đã lì lợm và đặc biệt mê võ. Hiệu thích xem phim kiếm hiệp, ngứa ngáy chân tay, đánh đấm suốt ngày. Một ngày kia, máu "yêng hùng" nổi lên, Hiệu ăn trộm tiền của bố mẹ đi tìm thầy học võ. Hắn tìm đến lò võ của một ông thầy ở Bắc Ninh bái sư. Ba năm trời ròng rã tuyệt nhiên hắn chẳng có tin tức về nhà. Chẳng biết, thu lượm được bao nhiêu "thành công lực", năm 17 tuổi Hiệu ung dung về quê hương.
Có chút ít "bản lĩnh" võ nghệ, Hiệu ngày càng ngang ngạnh. Suốt ngày, hắn lang thang, tụ tập đám thanh niên đánh đấm, bày trò nghịch ngợm. Từ lúc đó, hắn đã tự coi mình là "hảo hán làng", nhìn đám thanh niên choai choai cùng tuổi bằng "nửa con mắt". Nhà nghèo, bố mẹ thấy con trai lớn không làm gì cứ nhong nhóng đi ra, đi vào, giắt lưng cồm cộm côn gậy, tính khí thì như đổ lửa càng thêm "nóng" mắt. Những lần bị mắng cứ nhiều hơn nhưng Hiệu chẳng "bắt lời". Lúc này, đã quá chán với sự tù túng, hắn bỏ nhà đi. Bố mẹ Hiệu cũng chỉ nghĩ đi đua đòi linh tinh nhưng sự đời lại đưa đẩy hắn bước chân vào tận mỏ đá đỏ Quỳ Châu - Nghệ An.
Những năm 80 của thế kỷ trước, người dân tứ xứ đổ về Quỳ Châu tìm cơ may đổi vận từ đá đỏ. Trần Văn Hiệu cũng theo dòng người tìm đến "đầu quân" cho một "đại ca" nơi rừng xanh núi đỏ. Hiệu kể lại: "Khi ấy tôi mới hiểu thế nào là rừng thiêng, nước độc. Nhiều người gục ngã, bỏ xác nơi rừng sâu không phải bị cướp thì cũng bị ngã nước. Thời kỳ đó, tôi đang sung sức nên may mắn vượt qua tất cả. Tôi cũng đã tạo ra nhiều "chiến công" cho "đại ca" và vô tình cũng tích luỹ "số má" cho bản thân mình".
Tận mắt chứng kiến sự rẻ rúng của những viên đá, mà có thời người ta bảo quý hơn vàng và có người phải đổi cả tính mạng, Hiệu cũng thấy ngán sự đời. Tuy nhiên, hoạ may lắm mới có ai đó đào được viên đá quý và giá bán cũng chỉ được vài triệu đồng. Còn những chuyện đá đỏ bán được cả trăm triệu đồng chỉ là tin đồn nơi núi thẳm. Ngao ngán với đá đỏ, Hiệu bỏ nơi đầu tiên mình dấn thân giang hồ để đi tìm vùng đất mới để thoả chí vẫy vùng.
Những cuộc chiến giành lãnh địa
Trần Văn Hiệu không nhớ nổi mình đã tham gia bao nhiêu cuộc chiến tranh giành lãnh địa, tranh giành mỏ tốt. Cuộc chiến ở những nơi này, chân lý, lẽ phải dành cho kẻ mạnh. Thắng làm vua, thua làm giặc, tất cả sự phân chia đều do kẻ mạnh hơn định đoạt. Con người ở đây giẫm đạp lên nhau mà sống. Muốn tranh được đoạn mỏ tốt thì phải chiến đấu và muốn giữ được mỏ để khai thác cũng cần đến lực lượng đủ mạnh để giao tranh. Anh Hiệu kể lại: "Ngày ấy nhóm "thất hùng" (7 anh em giang hồ) chúng tôi làm mưa làm gió nhiều bãi vàng, mỏ thiếc. Tiếng tăm của chúng tôi làm nhiều chủ bưởng khác cũng phải khiếp sợ. Sự liều lĩnh, bất chấp sống chết khiến băng nhóm như những con mãnh hổ tung hoành giữa rừng mà chẳng biết sợ ai. Chúng tôi tự đặt ra "luật rừng" nơi mình "đóng trại". Ngẫm lại bây giờ tôi cũng thấy ớn".
Một ngày tháng 2/1995, tiết trời vẫn còn se lạnh. Rừng sâu Thái Nguyên, nơi có bãi thiếc vẫn còn yên lắng. Sương chiều vắt trên ngọn cây, che đi ánh nắng đầu mùa yếu ớt. Sau một ngày làm việc nơi bãi thiếc, chủ chòm Hiệu xuống suối tắm như thường ngày. Một không gian yên tĩnh đến lạ thường. Bỗng... ầm! Tiếng lựu đạn vang lên, Hiệu bị thương nặng. Tai nạn đổ xuống, lúc ấy đám đàn em và thợ đãi thiếc nói là sập hầm. Tuy nhiên, nói chuyện với tôi, anh Hiệu kể thật nội tình: "Ngày ấy nhóm tôi mạnh nên nhiều bọn đố kỵ lắm. Rồi từ những mâu thuẫn do tranh chấp lãnh địa, tranh chấp mỏ, một nhóm khác đã thuê bọn nghiện dùng lựu đạn tấn công khi tôi đi tắm dưới suối. Tôi thành ra như hôm nay là từ vụ tai nạn đó".
Tai nạn đã chấm dứt những ngày tháng vẫy vùng của Trần Văn Hiệu. Anh được vợ chồng người bạn đưa về quê nơi có mỏ than Núi Hồng ở Đại Từ - Thái Nguyên cưu mang. Trần Văn Hiệu ẩn mình thật sâu. Anh quên tất cả, quên ngay chính bản thân mình. Còn ở quê nhà, sau nhiều năm không có tin tức gì của con trai, gia đình tưởng Hiệu đã chết mất xác nơi thâm sơn cùng cốc. Vậy là, hàng năm cứ nhớ ngày Trần Văn Hiệu ra đi, bố mẹ lại thắp hương, sửa soạn mâm cơm làm giỗ cho anh. Có đến 5 năm làm giỗ con, bao lần người mẹ thương con khóc khô nước mắt, bao lần người bố tự trách mình đã nặng lời với con...
T ự tung tự tác ở 15 bãi vàng Trong bộ áo nâu sòng, dáng ngồi thoải mái, giọng nói nhỏ nhẹ khiến tôi không thể hình dung mình đang ngồi đối diện với một tay giang hồ "có hạng" của nhiều bãi vàng những năm trước đây. Một tay đã cụt gần đến vai như để trả lại những ngày tháng làm trùm. Nắm chặt bàn tay còn ba ngón như nhớ đến thời "oanh liệt nơi rừng thẳm", anh Hiệu kể: "Rời mỏ đá đỏ Quỳ Châu, tôi tìm đến vùng Lục Yên (Yên Bái) tìm đá quý, rồi lại tìm vàng nơi núi rừng Hoàng Liên Sơn, bãi vàng Ma-nu, Khâu U (Cao Bằng), sau đó đến mỏ thiếc... Đôi chân tôi và các anh em trong nhóm đã đi không biết bao nhiêu rừng núi. Đâu có bưởng vàng, lò thiếc, mỏ đá quý là tôi tìm đến". Được biết, với 10 năm ngang dọc, Hiệu đã đi khoảng 15 điểm bãi khác nhau.
Theo NDT
Kỳ 3: Cuộc "soán ngôi" bằng máu ở phà Mỹ Thuận Nghĩ lại thời kỳ trộm cắp, Lê Lam tự nhủ "sao mình tàn nhẫn, độc ác quá". Sau hơn một năm kề vai sát cánh cùng đại ca Sơn Nam tại ga tàu các tỉnh miền Trung, Lê Lam quyết định chuyển vào ga Long Khánh (Đồng Nai). Hắn chọn mảnh đất ngã ba gốc Mít (nay là khu Lò Heo, Long Khánh)...