Biên giới tháng 2 năm 1979
Rạng sáng 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa hơn nửa triệu quân cùng hàng nghìn xe tăng, xe cơ giới tràn qua biên giới Việt Nam, đồng loạt tấn công 6 tỉnh phía Bắc từ Pa Nậm Cúm ( Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) trên chiều dài 1.200 km.
Báo Quân đội nhân dân đăng “4 giờ 17 phút ngày 17/2/1979, giữa lúc nhân dân Hoàng Liên Sơn đang ngủ ngon thì bất thình lình hàng loạt đạn đại bác từ phía Bắc giội tới làm khắp biên giới bốc lửa ngùn ngụt. Hàng loạt quả đại bác thi nhau trút xuống thị xã Lào Cai, Cốc Lếu, nhằm thẳng các cơ quan, khu công nghiệp…”.
Các tỉnh nằm trong vòng chiến sự gồm Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh (Xem đồ họa).
Hình ảnh thị xã Cao Bằng bị quân Trung Quốc bắn phá tan hoang do nhiếp ảnh gia Trần Mạnh Thường ghi lại. Khi đó, ông là cán bộ phòng biên tập ảnh của Nhà xuất bản Văn hóa được tăng cường lên biên giới phía Bắc cuối năm 1978. Từ lúc chiến sự xảy ra đến đầu tháng 3/1979, ông theo chân công an vũ trang đi khắp chiến trường Cao Bằng, ghi lại những hình ảnh chân thực của cuộc chiến 38 năm trước bằng một chiếc máy ảnh và 20 cuộn phim.
Bất ngờ trước sự tấn công của quân Trung Quốc, người dân thị xã Cao Bằng ngược đường quốc lộ, băng rừng di tản về hướng Bắc Kạn, Thái Nguyên. Giữa dòng người tản cư có hai chị em cõng nhau chạy nạn. Hai đứa trẻ vừa đói, vừa mệt nhưng cũng không dám nghỉ ngơi. Nhiều năm qua, ông Trần Mạnh Thường vẫn hy vọng gặp lại hai chị em trong bức ảnh.
Cô bộ đội bế bé gái theo mẹ đi tản cư tại chân cầu Tài Hồ Sìn (Hòa An, Cao Bằng). Mẹ của bé trúng đạn quân Trung Quốc bị thương nặng, được bộ đội đưa về tuyến sau. “Tình hình khi ấy rất khẩn trương, ai cũng hoang mang vì không nghĩ Trung Quốc lại đưa quân tràn qua bắn phá”, ông Thường kể.
Từ ngày 17/2/1979 đến 18/3/1979 khi Trung Quốc rút quân, nhiều bản làng dọc biên giới phía Bắc bị tàn phá nặng nề. Đạn pháo tầm xa phá hủy nhà cửa, trường học, bệnh viện, cầu cống, người dân bị giết hại.
Cầu sông Bằng (Cao Bằng) bị quân Trung Quốc đánh sập.
Nhà trẻ thị xã Cao Bằng chỉ còn là đống đổ nát.
Trâu bò bị giết dọc đường quân Trung Quốc đi qua.
Anh Nông Văn Ất ở xã Hưng Đạo (Cao Bằng) bật khóc khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài về cái chết của vợ con. Chị Nguyễn Thị Hải, vợ anh đang mang bầu 6 tháng cùng bốn đứa con, lớn nhất 10 tuổi, nhỏ nhất 3 tuổi đều bị giết chết rồi ném xuống giếng.
Chị Nông Thị Ty, người dân thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo còn sống sót sau trận càn quét của quân Trung Quốc trả lời nhà báo Tiệp Khắc. Tại thôn này, 43 dân thường gồm người già, trẻ em, phụ nữ mang thai bị giết hại.
Chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra khi các quân đoàn chủ lực Việt Nam đang làm nhiệm vụ quốc tế, truy quét quân Khmer Đỏ ở Campuchia. Tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam trên toàn tuyến biên giới lúc này khoảng 50.000 quân, chủ yếu bộ đội địa phương, công an vũ trang và dân quân tự vệ.
Video đang HOT
Đối đầu với đội quân đông gấp 12 lần được yểm trợ bởi hỏa lực mạnh, quân dân các dân tộc 6 tỉnh biên giới phía Bắc chủ động tổ chức chiến đấu ngay tại chỗ cầm chân quân Trung Quốc trong khi chờ quân chủ lực.
Bộ Quốc phòng Việt Nam gấp rút điều động các sư đoàn bộ binh quân khu từ tuyến sau lên, quân chủ lực từ chiến trường Tây Nam trở về tham chiến.
Xác xe tăng Trung Quốc bị bắn gục tại bản Sẩy (Hòa An, Cao Bằng). Bộ đội bám trụ từng hốc suối, bìa rừng, đánh bật quân Trung Quốc lùi dần về phía đường biên. Báo Quân đội nhân dân số Thứ Sáu, ngày 23/2/1979 đăng “Trong 5 ngày (từ 17 đến 21/2), quân dân các tỉnh biên giới diệt 12.000 địch, diệt và đánh thiệt hại nặng 14 tiểu đoàn, bắn cháy, phá hủy 140 xe tăng, xe thiết giáp, thu nhiều súng và đồ dùng quân sự”.
Súng chống tăng DKZ, đạn B41, súng trung liên, đại liên của quân Trung Quốc bị bộ đội Việt Nam thu được.
Để huy động sức người, sức của cho công cuộc cứu nước, ngày 5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 – LCT ra lệnh tổng động viên trên cả nước. Hàng vạn thanh niên các tỉnh biên giới và toàn quốc nhanh chóng ghi danh nhập ngũ.
Đất nước chuyển mình vào cuộc kháng chiến mới. Hàng hóa nhanh chóng được chi viện cho chiến trường phía Bắc.
Các thiếu nữ dân tộc Tày chuyển lương thực cho bộ đội.
Khi lệnh Tổng động viên được ban bố ngày 5/3, Trung Quốc tuyên bố rút quân vì đã “hoàn thành mục tiêu chiến tranh”. Tuy nhiên, suốt 10 năm (1979-1989), chiến sự vẫn tiếp diễn ở biên giới phía Bắc, khốc liệt nhất là mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang).
Hoàng Phương
Ảnh: Trần Mạnh Thường
Theo VNE
Chiến tranh Biên giới 1979: Giây phút sinh tử ở Pháo đài Đồng Đăng
Địch vây khốn nhiều ngày, chúng đã dùng pháo kích, ốp bộc phá, đổ xăng, phun chất độc... nhưng không một chiến sĩ nào đầu hàng. Tất cả đều quyết tâm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.
Đó là những gì chúng tôi được nghe, mường tượng về giây phút sinh tử trong trận chiến ở pháo đài Đồng Đăng, chiến tranh biên giới năm 1979.
Vào một buổi tối hồi năm 2013, theo sự sắp xếp của Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Lạng Sơn, tôi đã được cùng đoàn làm phim trực tiếp phỏng vấn AHLLVT Đại tá Nông Văn Pheo, Phó Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Biên phòng Lạng Sơn.
Đạo diễn Vũ Ngọc Khôi, đoàn làm phim "Những trang sử biên thùy", ngồi lặng lẽ ở góc phòng lắng nghe từng lời kể.
Năm 1978, Anh hùng Nông Văn Pheo, lúc đó mới là binh nhất trực tiếp tham gia đại đội 5 Công an Vũ trang (nay là Biên phòng), bảo vệ Thị trấn Đồng Đăng.
Qua lời kể của Đại tá Nông Văn Pheo, người sống sót sau nhiều trận chiến ở pháo đài Đồng Đăng, khung cảnh cuộc chiến tái hiện như một cuốn phim.
Pháo đài Đông Đăng đổ nát sau chiến tranh (Ảnh Hồng Chuyên)
Trận chiến ác liệt
"Đêm 16 và rạng sáng 17/2/79, khoảng 4h30 sáng, quân Trung Quốc tiến hành bắn pháo từ bên kia biên giới vào Việt Nam. Pháo đài Đồng Đăng là một trong những điểm đầu tiên Trung Quốc đánh đòn phủ đầu.
4h30 ngày 17/02, toàn bộ lực lượng biên phòng và bộ đội được lệnh di chuyển lên pháo đài sẵn sàng chiến đấu.
5h30, bộ binh, xe tăng Trung Quốc tràn vào lãnh thổ Việt Nam tại vị trí cột mốc 16. Đại đội 5 Công an Vũ trang Lạng Sơn của chúng tôi do đồng chí Đại đội trưởng Trần Hà Bắc trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Trước mắt chúng tôi, quân địch càng lúc càng đông, với sự yểm hộ của nhiều xe tăng, pháo... tràn từ phía biên giới sang, trong khi đó, vũ khí của chúng tôi chỉ có AK, CKC, đại liên, B40....
Đoán biết được địch muốn tấn công vào phía tây pháo đài, đồng chí đại đội trưởng ra lệnh chặn đánh. Trong lúc chiến đấu tiêu diệt địch, 5, 6 xe tăng Trung Quốc tràn lên, đồng chí Trần Hà Bắc ra lệnh cho đồng chí Nguyễn Trường Bảy và đồng chí Đỗ Văn Dưỡng trực tiếp chi viện cho đơn vị bạn bắn xe tăng.
Chỉ trong chớp mắt, đồng chí Nguyễn Trường Bảy, đồng chí Đỗ Văn Dưỡng đã bắn cháy một xe tăng của địch nhưng không may cả 2 đồng chí bị thương, được bộ đội đưa vào pháo đài cấp cứu.
Địch tiếp tục đánh vào pháo đài bằng hỏa lực mạnh hơn. Đồng chí binh nhất Lê Minh Trường bật dậy, dùng B40 bắn cháy một xe tăng của địch. Chiếc xe tăng thứ nhất vừa cháy, đồng chí nạp đạn ngắm bắn chiếc thứ 2. Chiếc xe tăng thứ 2 vừa bị bắn đứt xích, đồng chí Lê Minh Trường không may bị trúng đạn và hy sinh.
Trong lúc trận chiến đang diễn ra ác liệt, tôi với chuẩn úy Mai Chiến Tranh chặn hướng tấn công phía Đông của pháo đài.
Địch đánh càng ngày càng mạnh, dùng nhiều hỏa lực và bộ binh bao vây, đồng chí Trần Hà Bắc, đại đội trưởng, hy sinh tại chỗ. Đồng chí Hoàng Quốc Hùng trung úy thay thế chỉ huy chiến đấu.
Địch tấn công dồn dập, đồng chí Hoàng Quốc Hùng cũng hy sinh. Sau đó địch tràn sang phía tôi và đồng chí Mai Chiến Tranh. Tôi bắn liên tiếp, súng AK hết đạn, tôi chộp khẩu trung liên RPD phía sau, không ngừng nhả đạn. Địch vẫn tràn lên. Đồng chí Mai Chiến Tranh bị bắn vào sườn, máu chảy nhiều. Tôi tiếp tục bắn, địch thương vong nhiều, chúng dừng tấn công.
Trong lúc đó, chúng tôi dìu anh Tranh xuống tầng 1. Chị Tấm là vợ anh Tranh ở Cao Bằng xuống thăm, cũng bị mắc kẹt tại pháo đài Đồng Đăng, chị cùng đơn vị tham gia nấu cơm phục vụ cán bộ chiến sĩ.
Chị Tấm hỏi tôi: "Chú ơi, anh Tranh có bị làm sao không?" Tôi trả lời động viên chị: "Báo cáo chị, anh Tranh vẫn khỏe...". Vừa lúc đó, anh Tranh nói: "Tấm ơi anh bị thương rồi", chị Tấm lao lại bên anh dìu anh vào khu chăm sóc thương binh.
Chúng tôi trở ra, địch cách cửa pháo đài chừng 5 mét, chúng ném lựu đạn vào trong. Tôi thấy quả lựu đạn rơi xuống chân, nhanh như cắt, tôi cầm quả lựu đạn, ném ra ngoài, sau tiếng nổ "bùm", đất đá bốc lên. Thoáng thấy bóng địch lao vào, tôi bỏ khẩu súng ngắn vừa hết đạn xuống, chộp lấy khẩu AK. Vừa hay địch nhảy đến, tôi đâm lưỡi lê và bóp cò súng, một tên đổ vật xuống trước mặt tôi.
Cùng lúc đó, quân địch ào lên, tôi tiếp tục lia một loạt đạn. Trận chiến tạm dừng.
Một lúc sau, quân Trung Quốc pháo kích dữ dội. Trong lúc pháo kích có khoảng 7 xe tăng tiến sát pháo đài, siết chặt vòng vây.
Lúc đó, tình thế nguy hiểm, xạ thủ B40 đã hy sinh, địch ở dưới, ta ở trên, việc bắn B40 khá khó, chúng tôi chỉ còn cách tiêu diệt bộ binh địch. Chúng tôi bắn liên tục về phía địch, hết đạn, súng hóc lại tiếp tục chộp lấy súng của đồng đội đã hy sinh để giáng trả. Trung Quốc vẫn không chiếm được pháo đài.
Địch tiếp tục duy trì chiến thuật bắn pháo trước, sau đó đưa bộ binh lên. Khi nào địch nã pháo, anh em chui xuống giao thông hào, khi nào bộ binh của chúng lên anh em lại nhỏm dậy chiến đấu. Chúng tôi thông báo cho nhau hướng tấn công của địch để tập trung anh em giáng trả quyết liệt.
Đến đêm 17/2, địch dùng lực lượng thám báo dò la, đánh bất ngờ quân ta. Quân ta dùng xẻng cá nhân đào hàm ếch ở giao thông hào vừa ẩn mình tránh pháo vừa chặn thám báo đột nhập.
Sang ngày 18/2, Trung Quốc tấn công mạnh hơn, những trận chiến đấu dày hơn, anh em cũng đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch nhưng vũ khí đạn dược đã hết, sử dụng quá nhiều nên hỏng hóc, cán bộ chiến sĩ bị thương, hy sinh già nửa.
Đến lúc này, Trung Quốc vẫn không chiếm được pháo đài.
Đêm 18/2, Trung Quốc dùng lực lượng thám báo và biệt kích, để nắm tình hình và tràn lên. Chúng tôi chia nhau ngủ để canh chừng, cứ thấy bóng quân địch là chúng tôi dùng súng AK lia xuống.
Ngày 19, tiếp tục như vậy. Tất cả chiến sĩ xác định chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.
Ngày 20, cũng diễn ra dữ dội. Chúng tôi không thể ăn uống được gì, anh nuôi mang cơm lên, đạn và pháo cày xới liên tục, cơm canh đều trộn đất, cát.
4 giờ chiều ngày 21, Trung Quốc dùng pháo bắn dữ dội vào Pháo đài Đồng Đăng, xung quanh khói bụi mù mịt. Vừa nghe tiếng pháo rơi xuống chiến hào, tôi ngất đi không biết gì nữa. Tỉnh dậy, việc đầu tiên tôi tìm súng và lay đồng đội, những đồng đội xung quanh tôi đã bất động máu chảy tứa ra. Tôi bò vào bên trong pháo đài.
Nghe tiếng rì rầm từ cửa pháo đài vọng vào, anh em lúc đó không còn nhiều, chúng tôi nghĩ mình có thể sẽ chết ở đây. Nhưng không thể nằm yên chờ chết, chúng tôi dùng súng bắn ra ngoài, định mở đường máu nhưng càng bắn, địch càng bắn trả dữ dội. Sau khi im tiếng súng, địch dùng loa gọi chúng tôi ra đầu hàng.
Cán bộ Biên phòng dẫn đoàn làm phim đến của hầm pháo đài, nơi trước đây giao tranh ác liệt (ảnh Hồng Chuyên)
Không bỏ cuộc
Lúc đó, còn khoảng hơn 10 người, anh em đều quyết một lòng chiến đấu, thà chết chứ không đầu hàng. Trung Quốc dùng thuốc nổ ốp vào cửa hầm làm sập rất nhiều ụ pháo, bụi khói mù mịt. Sau tiếng nổ, họ tiếp tục phun vào chất gì đó, ai nấy nước mắt dàn dụa, sặc, ho... Địch tiếp tục dùng loa gọi ra đầu hàng.
Chúng tôi di chuyển xuống tầng 2, tìm đồ ăn. Ai cũng nghĩ, mình sẽ chết ở đây, bảo nhau nhắm mắt lại nghĩ đến người thân một lần cuối cùng...
Ngồi nghĩ một lúc rồi lại bàn nhau "không thể chết dễ dàng như thế", chúng tôi quyết định đào đường khác để thoát vòng vây địch. Phía trên Trung Quốc tiếp tục đánh bộc phá sập tầng 1. Chúng tôi di chuyển xuống tầng 3, để tránh sức ép bộc phá, một số anh em thương binh không chịu được sức ép đã hy sinh...
Tầng 3 tối đen như mực, chúng tôi tháo pin ở các máy thông tin liên lạc cho vào đèn pin để lấy ánh sáng, soi các ngóc ngách, tìm cuốc xẻng bộ binh, mò xem chỗ nào đất mềm để đào đường thoát. 8, 9 anh em nằm nối đuôi nhau đào và bới đất. Thay phiên nhau đào, ai khát nước, khó thở lại đổi phiên lùi xuống phía sau. Nước uống là những vũng nước đọng, bùn lẫn máu anh em. Cuốc xẻng không đủ chúng tôi dùng tay không bới đất. Bàn tay tôi tóe máu. Đào một đoạn thì vướng cục đá lớn, anh em quay lại ôm nhau khóc. Nhưng rồi lại động viên nhau đào tiếp.
Đào mãi, đào mãi thì thấy có rễ cây, chúng tôi mừng lắm, đào một lúc thì thấy man mát, anh em reo lên sung sướng.
Một lúc nữa, anh Tranh reo lên: "Sáng rồi"
Tôi bảo: "Cẩn thận không được nói to, địch mai phục bên trên. Đồng chí nhìn xem trời sáng là ban ngày, có sao là ban đêm"
Anh Tranh bảo: "Có sao"
Anh Tranh thò đầu lên nhìn quanh không có bóng địch. Chúng tôi khó nhọc chui ra. Không ai bảo ai, chạy tản ra các hướng, đề phòng địch.
Riêng tôi dìu đồng chí Hùng đi ra bờ suối uống nước, uống xong nước trời tang tảng sáng, nhìn thấy xác quân Trung Quốc nổi ngay gần.
Trời sáng, tôi và đồng chí Hùng đi tìm chỗ ẩn nấp. Bụng đói cồn cào, đồng chí Hùng đau đớn rên khe khẽ, nước mắt trào ra. Xung quanh có mấy cây chuối nhưng chúng tôi không dám bẻ sợ bị lộ. May sao tôi nhìn thấy cây chuối bị trâu ăn dở, tôi dùng tay móc nõn chuối, cả hai ăn cầm hơi.
Chờ mãi, nghe tiếng chim kêu rủ nhau vào ngủ, tôi đoán trời đã tối, chúng tôi tiếp tục tìm đường về đơn vị, bằng cách bò theo đường bờ suối để tránh bị phục kích.
Nhưng đi một đoạn thì lọt ổ phục kích của quân Trung Quốc, súng nổ mạnh, tôi và đồng chí Hùng chạy vào núi đá, hai người lạc nhau từ đó. Còn mình tôi, tay vẫn lăm lăm quả lựu đạn. Bụng bảo dạ, nếu địch bắt sẽ cho nổ lựu đạn để liều chết.
Chạy miết, tôi tìm được vườn mía của người dân, tôi ẩn nấp ở đó và ngồi dậy ăn liền mấy khúc. Ăn xong, tôi thấy người khỏe lại, tôi lấy sức leo lên núi, nghe thấy có tiếng Việt Nam, tôi mừng lắm. Mình đã sống rồi, tôi lại gần nói to: "Các đồng chí có phải bộ đội Việt Nam không". Có tiếng trả lời: "Phải". Nhìn thấy người lính Việt Nam mang quân hàm đỏ, tôi mừng phát khóc. Tôi đã thoát chết trở về với đồng đội...
Câu chuyện về cuộc chiến đấu anh dũng pháo đài Đồng Đăng và sự trở về thần kỳ của anh hùng Nông Văn Pheo kết thúc, chúng tôi vẫn lặng đi không nói được câu gì. Riêng đạo diễn Vũ Ngọc Khôi đứng dậy bắt tay người lính Biên phòng, người đồng đội của mình, mắt ông rưng rưng lệ.
Chắc ông đã được giải đáp phần nào về những gì diễn ra trong chiến tranh biên giới, nơi pháo đài đổ nát kia. Ông cũng nghĩ đến những người bạn, những người quen, những người đồng đội của mình, có thể vẫn còn nằm ở dưới những ngóc ngách pháo đài.
(Ghi theo lời Anh hùng LLVT, Đại tá Nông Văn Pheo)
(Theo Infonet)
Chiến tranh Biên giới 1979 Một góc nhìn hậu chiến Nói về cuộc chiến, về lịch sử không phải để khoét thêm hận thù mà chỉ là để nhắc nhở những thế hệ tương lai về đất nước này, dân tộc này... Ngày 5/3/1979, khi Cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng công bố lệnh tổng động viên, Trung Quốc tuyên bố rút quân. Sau khi rút quân, giới lãnh đạo và truyền thông...