Nhiệm vụ cơ mật của Đại tướng Lê Đức Anh
Bộ Chính trị một lần nữa đặt trọng trách lên vai Đại tướng – ông sẽ cùng với Bộ Ngoại giao tìm cách thăm dò và “mở đột phá khẩu” để tiến tới việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước, Việt Nam (VN) lại bước vào một giai đoạn mới vừa hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa khôi phục kinh tế, phát triển đất nước. Bối cảnh lịch sử ấy đặt lên vai một vị tướng một trọng trách lớn lao: Thực thi sứ mệnh ngoại giao – một nhiệm vụ quan trọng và cơ mật. Và với phẩm chất, trí tuệ và bản lĩnh, ông đã hoàn thành xuất sắc. Vị tướng ấy là Đại tướng Lê Đức Anh – người lặng thầm khai mở quan hệ Việt- Mỹ.
Thời cơ vàng
VN bắt đầu phát động đổi mới từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI, năm 1986 với những phác họa cơ bản. Nhưng thực chất, để triển khai một cách toàn diện công cuộc đổi mới phải kể đến Đại hội khóa VII, khóa VIII. Khóa VII và khóa VIII đã thực hiện đổi mới quyết liệt, hiệu quả: đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, lạm phát tới 774%, giải quyết được những vấn đề rất cơ bản về kinh tế để phát triển đi lên, từ đó, nhân dân ta mới tôn vinh các lãnh đạo hai khóa này là ban lãnh đạo “vàng”.
Cũng trong thời kỳ này, một khẩu hiệu được coi là chiến lược, kim chỉ nam của Đảng ta là: “VN muốn làm bạn với tất cả các quốc gia và các dân tộc trên thế giới”. Bộ Chính trị đã nhìn nhận rõ: muốn mở cửa kinh tế trước tiên phải quan hệ hợp tác với các nước mạnh như Hàn Quốc, Nhật Bản, khối EU, Hoa Kỳ… mà khâu “đột phá” là phải tiến tới bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Bởi từ trước tới nay, các nước này đều lấy Mỹ làm chuẩn – “cứ theo Mỹ mà làm, nhìn Mỹ mà xử sự” dường như đã trở thành luật bất thành văn.
Điều đó đặt ra vấn đề bình thường hóa với Mỹ càng sớm càng tốt. Lúc này, trong Bộ Chính trị, bác Đỗ Mười, bác Võ Văn Kiệt, bác Lê Đức Anh cùng lúc gặp nhau ở ý tưởng trên. Còn bên phía Cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bác Nguyễn Văn Linh và bác Phạm Văn Đồng cũng hết sức đồng tình. Đây là một thuận lợi lớn khi ban lãnh đạo cấp cao của Đảng đều có sự đồng thuận và quyết tâm cao.
Đi sâu phân tích các diễn biến lịch sử mới thấy, đây là thời cơ vàng để VN tiến hành phá bao vây cấm vận, xúc tiến bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Sau khi Mỹ dùng Trung Quốc (TQ) với bàn tay trực tiếp của tập đoàn Pôn Pốt ở Campuchia đánh phá biên giới Tây Nam của VN bị thất bại; trong lúc Mỹ chưa có chính sách mới đối với VN.
Tác phẩm “Chủ tịch nước Lê Đức Anh thăm hỏi ông Boby Muller, cựu binh Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam” của tác giả Phạm Cao Phong, đạt giải 3 cuộc thi ảnh “Quan hệ Việt-Mỹ và nước Mỹ qua ống kính của các nhà nhiếp ảnh Việt Nam”. (Ảnh chụp năm 1995, tại Newyork)
Cụ thể, VN giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975 thì ngày 15/10/1975, Tổng thống Mỹ sai Cố vấn an ninh đặc biệt, Henry Kissinger tới Bắc Kinh gặp Đặng Tiểu Bình (TQ). Mỹ đã bắt mạch được rằng: Đặng Tiểu Bình bắt đầu phát động mở cửa, đổi mới kinh tế, “xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu TQ” đang rất cần ngoại tệ.
Do đó, Mỹ ra thỏa thuận: TQ đang bị bao vây tứ phía, chỉ có lối thoát duy nhất là phía Nam. Mỹ sẽ “tặng” cho TQ một tỷ USD, đổi lại, TQ chuẩn bị trong 17 tháng, tới tháng thứ 18 phải dùng quân đội Pôn Pốt đánh VN từ hướng Tây Nam VN và TQ trực tiếp gây hấn ở biên giới phía Bắc VN. Đồng thời, Mỹ và TQ sẽ cùng đào tạo những toán biệt kích lớn, đưa về VN hoạt động gây bạo loạn nhằm không cho VN yên tâm hàn gắn vết thương chiến tranh.
Bởi Mỹ đã nhận ra rằng, nếu để VN hàn gắn xong vết thương chiến tranh và sớm gia nhập khối ASEAN thì rất bất lợi cho cả Mỹ và TQ – các nước ASEAN sẽ vươn lên trong độc lập tự chủ, thoát khỏi sự lệ thuộc vào “nước lớn”…
Xuất phát từ việc trước đó, Đại tướng Lê Đức Anh đã thực hiện nhiệm vụ “thăm dò và mở luồng” để tiến tới bình thường hóa với TQ thắng lợi, Bộ Chính trị tiếp tục một lần nữa đặt trọng trách lên vai ông. Theo đó, Đại tướng sẽ cùng với Bộ Ngoại giao tìm cách thăm dò và “mở đột phá khẩu” để tiến tới việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ.
Cũng cần phải nói thêm, bình thường hóa với TQ đã khó, vì hai nước vừa xảy ra cuộc chiến biên giới nhưng còn dễ hơn so với với Mỹ. Rào cản lớn nhất là VN và Mỹ vừa trải qua cuộc chiến kéo dài suốt 21 năm nên cả hai bên đều có sự tự ái, hiềm khích và hoài nghi, không bên nào chịu mở lời trước.
Trước đây, TQ với Mỹ rơi vào thời kỳ “băng giá” mối quan hệ suốt 16 năm kể từ sau đại chiến thế giới thứ hai. Để “mở luồng” hàn gắn lại, TQ đã dùng thủ pháp “ngoại giao bóng bàn”. Tức là, cử các đội bóng bàn của mình sang Mỹ thi đấu để vừa giao lưu vừa thăm dò phản ứng của đối phương. Còn giờ đây VN và Mỹ sẽ mở đường bằng cách gì, một câu hỏi lớn đã đặt ra cho Đại tướng Lê Đức Anh .
Video đang HOT
Đại tướng xét thấy việc mở đường bằng giao lưu kinh tế không khả thi vì Mỹ đang là siêu cường, còn ta đang là một nước nghèo vào bậc nhất nhì thế giới.
Thăm dò bằng khoa học kỹ thuật
Qua nghiên cứu, tìm tòi, Đại tướng Lê Đức Anh đã bật ra suy nghĩ “sẽ mở cửa thăm dò bằng hướng khoa học kỹ thuật”. Lúc ấy, có một sự kiện tuy không lớn nhưng rất có ý nghĩa, đó là: Thiếu tướng, Giáo sư, Bác sỹ Nguyễn Huy Phan đang công tác tại Bệnh viện 108 (Bộ Quốc phòng) là một bác sỹ rất giỏi về phẫu thuật chỉnh hình, vừa tham dự một hội nghị về phẫu thuật chỉnh hình quốc tế và được các bác sỹ quốc tế, trong đó có nhóm bác sỹ người Mỹ rất ngưỡng mộ, ngợi khen.
Vài ngày sau, phía Mỹ mời ông Phan tiếp tục dự một hội nghị quốc tế về y khoa tổ chức tại Mỹ. Vì vậy, Đại tướng mới gọi bác Phan vào giao nhiệm vụ: Khi sang bên đó, đồng chí chỉ tập trung báo cáo thật tốt thành tựu của mình về y khoa chỉnh hình, đừng có nói gì về chính trị. Việc này tuyệt đối cơ mật, chỉ có Bộ Chính trị và người được giao nhiệm vụ biết. Bác Lê Đức Anh cũng căn dặn, nếu những bác sỹ người Mỹ có ý định giúp nhân dân VN một điều gì đó thì cứ mời họ sang.
Khi sang tới đất Mỹ, bà con Việt Kiều, trong đó có nhiều người là bác sỹ, nghe tin có một bác sỹ người Việt nổi tiếng thế giới về phẫu thuật chỉnh hình tới thăm thì rất ngưỡng mộ, đón tiếp nồng nhiệt. Tranh thủ sự ủng hộ ấy, ông Nguyễn Huy Phan đã làm theo lời dặn của Đại tướng, đặt vấn đề với nhóm bác sỹ của Mỹ để họ cử những đoàn “Phẫu thuật nụ cười” qua VN.
Giáo sư Nguyễn Huy Phan báo cáo phương pháp tạo hình nhân một trường hợp thương binh nặng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bác Tôn Đức Thắng, ngày 27-7-1974. (Ảnh: TL/Toquoc.vn)
Ông Nguyễn Huy Phan đã làm rất tốt nhiệm vụ được giao. Và đúng theo dự kiến của tướng Lê Đức Anh, chỉ một thời gian ngắn, phía Mỹ đã cử một đoàn bác sỹ sang phẫu thuật miễn phí cho những trẻ em bị khuyết tật sứt môi hở hàm ếch tại VN. Đó là khâu mở đầu rất quan trọng, khẳng định từ việc giao lưu y tế đã giúp VN thăm dò được thiện chí của Mỹ.
Sau một hai đợt các tốp bác sỹ của Mỹ và VN giao lưu, hỗ trợ qua lại trên tinh thần cởi mở, thân thiện, theo đề nghị của tướng Lê Đức Anh, Trung ương đã cử ông Nguyễn Huy Phan làm Chủ tịch Hội Việt – Mỹ, là cầu nối liên lạc giữa hai bên. Thế nhưng, một tình thế hết sức khó khăn là do ông Phan được giao nhiệm vụ tuyệt mật nên Tổng Cục Hậu cần (quản lý toàn bộ ngành y của Quân đội) đã kỷ luật ông Phan vì cho rằng ông là gián điệp của Mỹ.
Chính sự hiểu lầm ấy đã dẫn tới số phận một con người bị đẩy sang một hướng rẽ khác, mà mãi tới sau này khi quá trình bình thường hóa thắng lợi, mọi việc có thể công khai thì ông Nguyễn Huy Phan mới được minh oan, được tuyên dương công trạng và được thưởng Huân chương Lao động. Người “giải oan” cho ông Phan không ai khác chính là Đại tướng, Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
Theo Đại tá Khuất Biên Hòa (Nguyên trợ lý của Đại tướng Lê Đức Anh)
Vietnamnet
Chuyện ít biết về sự ưu ái của Tổng thống Mỹ với Đại sứ Việt Nam
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Công Phụng chia sẻ rằng, ông đã rất bất ngờ khi lần đầu tiên được Giám đốc CIA mời dự tiệc Giáng sinh vào năm 2010 và càng ngạc nhiên hơn nữa khi một năm sau đó, ông là Đại sứ ASEAN duy nhất được mời dự tiệc ở Văn phòng Tổng thống Mỹ.
Nhân dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, phóng viên Dân trí đã có cuộc trò chuyện với nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Công Phụng về những kỷ niệm đáng nhớ trong nhiệm kỳ của ông tại Mỹ.
Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Lê Công Phụng (Ảnh: Nam Hằng)
Ông có thể chia sẻ một số những kỷ niệm mà ông nhớ nhất trong nhiệm kỳ đại sứ của mình tại Mỹ?
Tôi là đại sứ thứ ba của Việt Nam tại Mỹ. Đại sứ đầu tiên Lê Văn Bàng rất vất vả vì sự chống đối Việt Nam, chống đối quan hệ Việt - Mỹ quá lớn. Đại sứ thứ hai Nguyễn Tâm Chiến cũng không nhàn nhã gì; nhưng khi đến giai đoạn của tôi thì thời cơ khá thuận lợi khi những khó khăn đã bớt đi nhiều.
Năm 2007, sau 12 năm bình thường hóa quan hệ, hai bên đều đã ngấm hậu quả của sự thù địch và thấy cần phải thay đổi. Hai bên tăng cường hợp tác, trao đổi nhiều chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao, đưa ra những những tuyên bố thuận lợi cho quan hệ song phương.
Vào dịp tổ chức lễ kỷ niệm 15 năm ngày Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao tại thủ đô Washington, tôi có mời cựu Tổng thống Bill Clinton và nhiều thượng nghị sĩ, quan chức Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Mỹ đến dự.
Điều làm tôi ấn tượng nhất là theo chương trình, ông Clinton chỉ đến phát biểu 15 phút xong rồi về, nhưng khi thấy không khí vui quá, ông bảo tôi là ở lại thêm một lúc nữa. Chúng tôi ngồi nói chuyện với các nghị sĩ, các quan chức Bộ Ngoại giao và Quốc phòng rất vui vẻ.
Điều đáng nhớ là lúc đó tôi đứng cạnh ông Clinton. Trong bài phát biểu tại buổi lễ, ông Clinton nói rất nhiều về quan hệ hai nước vì ông là người tuyên bố dỡ bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Ông Clinton nói rằng hai đảng Dân chủ và Cộng hòa thay nhau nắm chính quyền, đấu tranh nhau quyết liệt trong nhiều vấn đề, nhưng trong quan hệ với Việt Nam thì hai đảng lại thống nhất với nhau.
Trong năm 2010, lần đầu tiên tôi được Giám đốc CIA của Mỹ, khi đó là ông Leon Panetta, mời đến dự tiệc Giáng sinh. Đó là một bất ngờ lớn với tôi vì thông thường Giám đốc CIA chỉ mời các đồng minh của Mỹ đến dự buổi tiệc này hàng năm. Rồi từ năm 2010, họ tiếp tục mời tôi cùng với đại diện của Thái Lan, Singapore và Phillippines, ngoài ra không có nước nào khác trong ASEAN được mời.
Một kỷ niệm khác là vào dịp Giáng sinh 2011, tôi là đại sứ duy nhất của ASEAN được Tổng thống Mỹ mời dự tiệc, điều này làm tôi cũng hết sức ngạc nhiên.
Gặp nhiều đại diện địa phương ở nhiều bang của Mỹ, tôi nhận thấy một điều giống như ông Bill Clinton nói là sự quan tâm và thúc đẩy quan hệ với Việt Nam đã trở thành trào lưu, xu thế chung của các địa phương ở Mỹ, mặc dù mỗi bang đều có luật riêng.
Trước khi kết thúc nhiệm kỳ, tôi có đến Hawaii và làm việc với Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương, tiếp xúc với 37 tướng tá trong một buổi sáng. Họ nói với tôi rằng sau khi về nước cố gắng làm sao đẩy nhanh hợp tác quốc phòng an ninh giữa hai nước, thể hiện đến mong muốn về hợp tác trong lĩnh vực này với chúng ta.
Những điều này cho thấy Mỹ đã thay đổi cách nhìn với Việt Nam, muốn xích lại gần hơn với chúng ta dù không phải là đồng minh. Trong tuyên bố năm 2010, 2011, họ đều nói rằng, ở khu vực Đông Nam Á, họ cần quan tâm nhất là Indonesia, Việt Nam và Singapore. Như vậy, chứng tỏ rất rõ nhu cầu và bước đi mang tính chiến lược của họ trong chính sách ngoại giao đối với Việt Nam.
Đối tác chiến lược: Chỉ còn ở vấn đề câu, chữ
Như ông vừa nói, Mỹ đã hướng tới quan hệ mang tính chiến lược với chúng ta từ những năm 2010, 2011; nhưng vì sao đến nay, hai nước chưa chính thức thiết lập quan hệ này?
Khi tôi còn làm đại sứ, vào năm 2010, phía Mỹ đã muốn thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam vì họ cũng có ý của họ rằng nếu Việt Nam là đối tác chiến lược thì Trung Quốc phải cảnh giác hơn, đó là sự cạnh tranh giữa các nước lớn với nhau. Tuy nhiên, chúng ta hợp tác với Mỹ nhưng không nhằm chống lại ai.
Khi đó, Bộ Ngoại giao Mỹ bảo tôi rằng làm xong đối tác chiến lược rồi tôi hãy về Việt Nam kết thúc nhiệm kỳ đại sứ. Họ rất mong muốn thúc đẩy quan hệ lên tầm mức cao hơn.
Dù chưa thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, nhưng nội hàm của quan hệ đã thể hiện tính chất chiến lược và điều quan trọng là hai nước có lợi ích song trùng và sự song trùng lớn nhất là duy trì hòa bình ổn định ở khu vực, trong đó có Biển Đông. Tôi nghĩ cái cản trở mà chúng ta không gọi tên đối tác chiến lược là hai bên còn khác nhau về chế độ chính trị, nên vấn đề chỉ còn là ở câu chữ, chứ hội hàm đã có tính chất như vậy rồi.
Hai nước đã đi được rất xa trong quan hệ song phương và theo tôi quan hệ Việt-Mỹ là một trong những mối quan hệ song phương phát triển nhanh nhất hiện nay.
Về TPP, chính người Mỹ đã khuyến nghị Việt Nam tham gia và hiện nay vấn đề tồn tại không lớn là lao động, minh bạch, chi phí công. Việc Quốc hội Hoa Kỳ gần đây đã trao quyền đàm phán nhanh (TPA) cho Tổng thống Obama là điều rất thuận cho tiến trình đàm phán và tương lai chúng ta sẽ thấy TPP đem lại gì.
Tôi nghĩ rằng khả năng đàm phán TPP có thể hoàn tất trong năm nay còn để dỡ bỏ hoàn toàn vũ khí sát thương cho Việt Nam thì cần thêm thời gian vì còn những khác biệt về chế độ, ý thức hệ và cả trong nội bộ Mỹ. Thực ra, họ dỡ bỏ một phần đã là thiện chí và là một biến tiến lớn trong quan hệ hai nước từng là cựu thù của nhau.
"Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai", quan hệ Việt-Mỹ đã đạt được những kết quả rất tích cực, có thể nói là đột phá trong một số lĩnh vực sau 20 năm bình thường hóa. Ông có hài lòng về quan hệ hai nước? Nếu lấy thang điểm 10 làm tiêu chuẩn, ông sẽ cho quan hệ Việt-Mỹ ở mức điểm nào?
Nếu nói cho điểm cụ thể thì khó, nhưng phải nói rằng , nhìn lại 20 năm, có thể nói quan hệ Việt-Mỹ phát triển rất đáng mừng tuy chưa thể nói là hài lòng vì nếu hai bên cố gắng hơn nữa, quan hệ có thể tiến xa hơn vì dư địa hợp tác còn nhiều với cái gốc là lợi ích gặp nhau trong cục diện khu vực và thế giới hiện tại.
Tuy nhiên, đến nay, nhiều khác biệt được thu hẹp và giải quyết. Cái chưa giải quyết đã được khoanh vùng và kiểm soát, đặc biệt hai bên đã xây dựng được lòng tin cho một quá trình lâu dài.
Về nhân quyền, đối thoại giữa hai nước đã nâng lên cấp thứ trưởng. Việt Nam đã nói rõ lập trường của mình về nhân quyền cho phía Mỹ, khẳng định mỗi nước có cách xử lý riêng về nhân quyền theo truyền thống của mình, theo sự phát triển kinh tế, theo cách thức dân chủ nhân quyền theo đại đa số. Nhờ có đối thoại, khác biệt này hai bên đang thu hẹp từ từ.
Dù hội chứng chiến tranh còn tồn tại giữa hai nước, nhưng đã đỡ hơn rất nhiều so với trước. Hồi tôi còn làm đại sứ, tôi chứng kiến nhiều cuộc biểu tình phản đối quan hệ Việt-Mỹ, nhưng giờ lực lượng chống đối này đã giảm đi nhiều vì sau 40 năm chiến tranh, người Việt tại Mỹ đều cảm thấy rằng ai cũng cần tổ quốc, ai cũng cần nơi "chôn nhau cắt rốn" của mình, đó là điều rất thiêng liêng.
Tuy sự chống đối đã giảm, nhưng chúng ta vẫn cần những chính sách và bước đi mạnh mẽ hơn nữa để làm sao đồng bào mình hướng về tổ quốc vì nếu không hội chứng chiến tranh sẽ là một cản trở lớn trong quan hệ hai nước.
Để đạt điểm cao hơn nữa, hai bên cần nỗ lực để tăng điểm đồng, hạn chế điểm bất đồng để làm sao nhiều người Mỹ không còn nhìn Việt Nam như một cuộc chiến tranh, một đất nước thiếu dân chủ, nhân quyền... và nhiều người Việt Nam không còn coi Mỹ như kẻ thù với âm mưu lật đổ chế độ, diễn biến hòa bình.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nam Hằng (t hực hiện)
Theo Dantri
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Tổng thống Barack Obama Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Obama cùng bày tỏ tin tưởng, lạc quan về triển vọng của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong thời gian tới. Hai bên đã trao đổi và nhất trí về các định hướng lớn nhằm phát triển quan hệ song phương, làm sâu sắc và phong phú thêm quan hệ đối tác...