Ký ức Điện Biên của người lính tham gia hỏi cung tướng Đờ-cát
Với khả năng nói tốt tiếng Pháp, người lính Nguyễn Xuân Tính được điều lên tham gia phiên dịch cho cuộc hỏi cung chớp nhoáng tướng Đờ-cát ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Gần 60 năm sau, ký ức của ông Tính về cuộc hỏi cung ngày đó vẫn còn nguyên vẹn.
Ông Nguyễn Xuân Tính – người tham gia phiên dịch hỏi cung tướng Đờ-cát khi chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi
Gần 60 năm trôi qua nhưng cái ngày tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chính thức sụp đổ, đặt dấu chấm hết cho gần 1 thế kỷ xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta vẫn nguyên vẹn trong ký ức của ông Nguyễn Xuân Tính (SN 1930, trú tại phường Trung Đô, Tp Vinh, Nghệ An).
56 ngày đêm gian khổ
18 tuổi, chàng trai Nguyễn Xuân Tính (quê Đông Sơn, Thanh Hóa) bước chân vào đời quân ngũ, phiên chế vào đại đoàn 312 đóng quân tại Hà Nội. Năm 1954, Trung ương quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, đánh vào tập đoàn cứ điểm cuối cùng của Pháp, giải phóng đất nước khỏi một thế kỷ thuộc địa, đại đoàn 312 cùng 4 đại đoàn khác được lệnh hành quân lên đây. Sau quãng thời gian hành quân gian khổ, vừa đi vừa mở đường, vừa ngụy trang, vừa chống chịu với những trận đói và cái rét tê tái miền sơn cước, các cánh quân cũng đã đến được điểm tập kết.
“Tự tin vào khả năng bất khả xâm phạm của tập đoàn cứ điểm này, máy bay địch rải truyền đơn, gọi loa khiêu khích: “Mời ông Giáp lên Điện Biên ăn Tết”. Chúng không thể ngờ rằng, chỉ với sức người nhỏ bé, Việt Nam đã kéo được pháo hạng nặng lên đây “ăn Tết” và đặt dấu chấm hết cho sự xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước này”, ông Tính cho biết.
Ngày 13/3/1954, đại đoàn 312 được lệnh đánh trận mở màn vào cứ điểm Him Lam – Độc Lập – Bản Kéo. Đây là cụm cứ điểm do 1 tiểu đoàn Âu Phi trấn giữ với hệ thống lô cốt, hầm ngầm dày đặc. Bị tấn công, địch phản công dữ dội. Từ các lỗ châu mai, đạn bắn ra như mưa. Đại đội 58 (tiểu đoàn 428, đại đoàn 312) do Phan Đình Giót chỉ huy có nhiệm vụ đánh bộc phá rà phá mìn và phá hàng rào dây thép gai để bộ đội tiến lên.
Anh lính trẻ Nguyễn Xuân Tính (bên phải) và Thượng tướng Lê Quang Hòa – nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị
Sau khi đánh quả bộc phá vào lô cốt địch, đạn từ lỗ châu mai vẫn tiếp tục vãi ra như trấu, quân ta không có kẽ hở để xông lên. Chính lúc đó, Phan Đình Giót đã lấy thân mình chặn trước họng súng quân thù. Đạn ngừng, bộ đội ào lên. Với sự yểm trợ của pháo cao xạ, bộ đội ta chiếm được cứ điểm quan trọng này.
Ông kể: “Ở trận đánh này, Pháp đã sử dụng súng hồng ngoại, sử dụng chất độc hóa học để làm mưa nhân tạo nên vùng lòng chảo Điện Biên này luôn nhão nhoét bùn đất. Bùn sục quánh lên tận đầu gối. Cả ta và địch đều phải đào hầm ngầm dưới đất, đêm đến, lúc tấn công mới lên khỏi hầm. Đói, khát, ẩm thấp, chỉ có cơm nắm hoặc bánh chưng ăn suốt ngày này qua ngày khác nhưng tinh thần anh em không hề nao núng. Đúng như nhà thơ Tố Hữu viết: “56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”.
Với tinh thần chiến đấu cao nhất, đợt tấn công thứ 2 vào trung tâm Điện Biên Phủ và đợt 3, tổng công kích, đánh vào sào huyệt cuối cùng của tướng Đờ-cát, chiếm sân bay, chặn đứt đường tiếp tế bằng đường không của địch đều giành được thắng lợi. Với cách đánh “bóc vỏ” này, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ – niềm tự hào của quân đội viễn chính Pháp ở Đông Dương hoàn toàn thất thủ. 5h30 phút chiều 7/5, tướng Đờ-cát phải chấp nhận đầu hàng”.
Video đang HOT
Cuộc hỏi cung lịch sử
5h30 phút chiều ngày 7/5/1954, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng 1 số chiến sỹ xông vào hầm chỉ huy, bắt sống tướng Đờ-cát và giải về Sở chỉ huy Đại đoàn 312. Với khả năng tiếng Pháp của mình, người lính Nguyễn Xuân Tính được điều lên tham gia phiên dịch, hỏi cung viên tướng quý tộc này. Đó vẫn luôn là một kỷ niệm đẹp, kỷ niệm hào hùng trong đời người lính của ông. Gần 60 năm trôi qua nhưng những giây phút ngắn ngủi ấy luôn hiện rõ mồn một trong tâm trí người lính già đã bước qua tuổi 80 này.
Những kỉ niệm đẹp đẽ về trận chiến chấm dứt gần 1 thế kỷ xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước Việt Nam luôn nguyên vẹn trong ký ức của người lính già
Ông kể: “Đờ-cát đội mũ ca lô, mặc bộ quân phục mùa hè phẳng nếp, khuôn mặt tái mét nhưng nói năng rất kiểu cách. Ông Lê Trọng Tấn – Chỉ huy trưởng đại đoàn 312 cho phép Đờ-cát và bộ tham mưu của ông ta được ngồi. Thấy chỉ có một mình Đờ-cát ngồi, ông Lê Trọng Tấn nhắc lại: “Tôi cho phép tất cả các ông được ngồi”. Một viên quan năm lên tiếng: “Thưa ngài, Thiếu tướng của chúng tôi chưa cho phép ngồi”. Ông Tấn dằn giọng: “Không còn tướng tá nào nữa. Tất cả các ông điều là tù binh nên mọi mệnh lệnh của chúng tôi, các ông phải chấp hành”.
Lúc đầu, ông Lê Trọng Tấn trực tiếp nói với đám tù binh bằng tiếng Pháp nhưng đến khi hỏi cung, cán bộ trong Bộ Tư lệnh đại đoàn hỏi bằng tiếng Việt, ông Tính và một số đồng chí khác nhận trách nhiệm phiên dịch lại.
- Ông và Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã tuyên bố “Điện Biên Phủ là pháo đài bất khả xâm phạm” và chính ông đã cho máy bay rải truyền đơn mời chúng tôi vào chơi trong cái bẫy đã giăng sẵn của ông ở Điện Biên Phủ. Nay ông nghĩ thế nào về nơi đó?
Đờ-cát không trả lời thẳng vào câu hỏi mà chỉ nói một cách chua chát: Vâng, hôm nay chúng tôi đã được gặp các ngài.
- Các ông đánh giá thế nào về lực lượng pháo binh của mình ở Điện Biên Phủ và Pi-rớt – chỉ huy pháo binh của các ông đã tuyên bố: Chỉ cần phản pháo 10 phút thì pháo của Việt Minh phải câm họng và sau 2 ngày pháo các ông sẽ nghiền nát chúng tôi?
- Chúng tôi không ngờ các ngài đem pháo hạng nặng lên Điện Biên Phủ và sử dụng có hiệu quả nên đã áp chế được pháo của chúng tôi.
Bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi chiến sỹ Điện Biên Phủ thành phố Vinh sau khi xuất bản quyển sách “Điện Biên Phủ – điểm hẹn” được ông Tính treo trang trọng trong nhà
- Có phải do không nghiền nát được chúng tôi nên Đại tá Pi-rốt đã tự “nghiền nát” mình bằng một quả lựu đạn?
- Vâng, Pi-rốt đã dũng cảm tự kết liễu đời mình.
- Ông đã nhận được điện của Đại tướng Na-va cho phép các ông thực hiện kế hoạc An-ba-tơ-rốt, phá vây chạy sang Lào, sao các ông không thực hiện?
- Các ngài đã thắt chặt vòng vây và bố trí lực lượng đón lõng nên chúng tôi không thể mạo hiểm.
- Không phá vòng vây, nghĩa là các ông phải chịu thất thủ và phải đầu hàng, các ông biết điều đó từ khi nào?
- Khi các ngài cho nổ khối bộc phá lớn ở đồi A1 và khi cho dạo dàn nhạc Staline thì chúng tôi biết giờ phút thất thủ đã đến. (Dàn nhạc Staline là cụm từ quân Pháp ám chỉ các dàn hỏa tiễn Cachiusa do Liên Xô sản xuất, có sức nóng hàng ngàn độ và sức công phá rất lớn được bộ đội ta sử dụng vào thời điểm cuối cùng của chiến dịch).
Sau khi kiểm tra tên tuổi, cấp chức, số hiệu sỹ quan của từng tên, phái viên của Bộ chỉ huy chiến dịch đem ảnh và chữ ký của chúng ra đối chiếu. Xác định đúng là Đờ-cát, toàn bộ Bộ chỉ huy của Pháp ở Điện Biên Phủ được chuyển lên Bộ chỉ huy chiến dịch của ta để tiếp tục khai thác thông tin.
“Với thắng lợi ở chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, chấm dứt gần 1 thế kỷ xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp trên đất nước ta. Với tôi, được góp mình vào chiến thắng Điện Biên Phủ, được chứng kiến giây phút viên tướng địch đầu hàng và tham gia hỏi cung tướng Đờ-cát luôn là một kỷ niệm đẹp trong cuộc đời quân ngũ của mình”, ông Nguyễn Xuân Tính tâm sự.
Theo Dantri
"Vũ khí đặc biệt" trên chiến trường Điện Biên Phủ
Trên thế giới đến nay có lẽ chỉ có ở Điện Biên Phủ, Việt Nam mới có một tờ báo được viết, in và phát hành ngay tại mặt trận, đó là tờ Báo Quân đội nhân dân xuất bản tại mặt trận.
Ấn phẩm từng được coi là "vũ khí đặc biệt" của bộ đội ta ở chiến trường Điện Biên Phủ 59 năm về trước.
Nhà báo Phạm Phú Bằng (thứ tư từ phải sang) cùng đồng đội thăm lại chiến trường xưa tại Mường Phăng năm 2011. Ảnh: Tiến Đạt
Việc quyết định cho ra đời Báo Quân đội nhân dân ngay tại mặt trận Điện Biên Phủ là một quyết định độc đáo, sáng tạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh và Tổng cục Chính trị lúc bấy giờ, nhằm phục vụ đắc lực nhất cho chiến dịch Điện Biên Phủ.
Theo Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân, trong việc chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch Điện Biên Phủ có việc chuẩn bị công tác tư tưởng, chăm lo đời sống tinh thần cho bộ đội, công tác chính trị, giáo dục chính trị, công tác Đảng, công tác tư tưởng cho đến từng người lính tham gia chiến dịch cho đến tất cả lực lượng tham gia chiến dịch như: dân công, lực lượng địa phương, các lực lượng phối thuộc.
Ý nghĩa quan trọng của chiến dịch Điện Biên Phủ đã dẫn đến việc ra đời "Tòa soạn tiền phương" của tờ báo.
Báo chí của chúng ta lúc bấy giờ còn rất thô sơ, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, không có giấy, không có mực in, tất cả phương tiện in ấn phát hành đều rất thô sơ, thế nhưng Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã sớm nghĩ đến vai trò của tờ báo tại mặt trận Điện Biên Phủ. Nếu lúc bấy giờ chỉ xuất bản tờ báo ở hậu phương (đóng ở ATK Định Hóa, Thái Nguyên) rồi chuyển lên mặt trận thì chắc là không kịp, cho nên cấp trên quyết định tổ chức một "tòa soạn tiền phương" để vừa thu thập tin tức, biên tập, tổ chức in ấn rồi phát hành ngay tại mặt trận để đưa tờ báo đến với bộ đội nhanh nhất.
Một nhà in tiền phương với máy móc được giấu dưới hầm cũng gấp rút bảo đảm việc in ấn. Lán của tòa soạn và nhà in đặt tại khu vực Sở Chỉ huy chiến dịch ở Mường Phăng, chỉ cách hầm của Tổng Tư lệnh và Chủ nhiệm Chính trị mặt trận một cánh đồng. Điều đó giúp Báo Quân đội nhân dân kịp thời nắm chắc diễn biến tình hình, định hướng tốt trong tuyên truyền.
Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân tại mặt trận Điện Biên Phủ 1953-1954 gồm 5 người là các ông Hoàng Xuân Tùy, phụ trách chung tờ báo; Trần Cư, phụ trách thư ký tòa soạn; Phạm Phú Bằng, phóng viên; Nguyễn Khắc Tiếp, phóng viên và Nguyễn Bích, họa sĩ trình bày báo. 5 cán bộ, phóng viên, họa sĩ này đã tham gia xuất bản từ số báo đầu tiên đến số báo cuối cùng tại mặt trận Điện Biên Phủ.
Ngày 28/12/1953, số đầu tiên của Báo Quân đội nhân dân tiền phương xuất bản. Tin tức, bài viết, gương chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ, kinh nghiệm đào hầm, tổ chức hậu cần, các phóng sự điều tra về tình hình sức khỏe bộ đội, vấn đề hậu phương người lính trong cải cách ruộng đất, vấn đề giải quyết tư tưởng sau mỗi trận đánh, những bức thư động viên bộ đội của Bác Hồ, chỉ thị của cấp trên, cùng thơ ca, hò vè, thơ đả kích địch... đã làm cho tờ báo dần trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của bộ đội và nó đã góp phần đắc lực vào công tác chính trị chiến dịch. Số 148 ra ngày 16/5/1954, số báo Quân đội nhân dân cuối tại mặt trận là số báo đặc biệt chào mừng chiến thắng Điện Biên Phủ.
Tờ báo hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử. Tính đến ngày đó, Báo Quân đội nhân dân xuất bản tại mặt trận Điện Biên ra được tổng cộng 33 số.
Đại tá Lê Kim, cộng tác viên tòa soạn tiền phương Báo Quân đội nhân dân tại mặt trận Điện Biên Phủ kể lại, lúc bấy giờ đời sống tinh thần của bộ đội ta còn nghèo nên tất cả trông chờ vào tờ báo này. Do nội dung tờ báo cũng rất phong phú, cả có tình hình quốc tế, có cả thơ trữ tình, thơ vui, thơ châm biếm... nên được anh em rất thích.
Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tại mặt trận Điện Biên Phủ là Phó Chính uỷ Trung đoàn 36, Đại đoàn 308. Ông có rất nhiều kỷ niệm xúc động về tờ báo Quân đội nhân dân xuất bản tại mặt trận Điện Biên Phủ.
Ông cho biết số báo đầu tiên đến tay ông không phải là số thứ nhất của tờ báo mà là số thứ 10. Sau khi sang Lào chiến đấu trở về Điện Biên Phủ thì số báo đầu tiên ông đọc đã có tin về trận Him Lam, số tiếp theo là trận Độc Lập. Trung tướng Hồng Cư nhớ nhất số báo ghi lại lời của Bác: "Các chú sắp ra trận, Bác hôn các chú, chúc các chú thắng to". Chính tờ báo giúp ông làm tốt công tác chính trị mặt trận, truyền đạt cho ông những chỉ thị của Đại tướng Tổng Tư lệnh đến bộ đội và phản ánh đời sống của bộ đội ở chiến trường...
Thiếu tướng Lê Phúc Nguyên, Tổng Biên tập báo Quân đội nhân dân khẳng định, sự chủ động, sáng tạo trong việc xuất bản Báo Quân đội nhân dân tại mặt trận Điện Biên Phủ 59 năm về trước, để lại cho những người làm báo hôm nay nhiều kinh nghiệm quý báu.
Báo Quân đội nhân dân tiền phương tại mặt trận Điện Biên Phủ là một tờ báo thành công và độc đáo, xứng đáng là "vũ khí đặc biệt" của bộ đội ta, góp phần làm nên chiến thắng "chấn động địa cầu" 59 năm về trước
Theo Dantri
Thêm một công ty bị thu hồi chứng nhận hợp quy "hộp đen" Bộ Giao thông Vận tải vừa ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận hợp quy đối với thiết bị giám sát hành trình (hộp đen) của xe ô tô VX-TRACK01 của Công ty CP Viễn thông Vạn Xuân tại Hà Nội. Theo đó, kể từ ngày 2/5, các sản phẩm hộp đen của Công ty CP Viễn thông Vạn Xuân không được...